Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Tài liệu Giáo trình Đại học chuyên ngành Kinh trị doanh nghiệp pptx

mang nặng mục đích xét trình độ hoàn thành các kế hoạch được giao, từ
đó để xếp hạng thành tích, xét thi đua Những kết luận rút ra nhiều khi
mang tính chủ quan, giả tạo, thiếu tính trung thực và tính khoa học.
Với công cuộc đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta,
chuyển nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng sang chế độ
hạch toán kinh doanh thực sự, thì cách nhìn nhận đối với công tác phân
tích hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đã được đổi mới theo. Người ta
đã nhận thấy rằng phân tích kinh tế trước hết là cần thiết đối với mỗi
doanh nghiệp, phục vụ cho lợi ích của chính họ. Chính điều đó làm cho
công tác này được tự giác quan tâm hơn, trở nên thiết thực, khách quan
hơn.
Ý nghĩa của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh
nghiệp, suy cho cùng, là ở chỗ nó giúp cho các doanh nghiệp đánh giá một
cách chính xác thực trạng của sản xuất kinh doanh đang ở trình độ nào,
chỉ ra những ưu nhược điểm, làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược
kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế và xã hội của quá trình
sản xuất kinh doanh.
Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh vừa tồn tại như một nội
dung độc lập trong quản lý sản xuất kinh doanh, vừa có liên hệ chặt chẽ
với các mặt khác của hoạt động quản lý. Mọi quyết định trong quản lý
kinh doanh, dù ở cấp nào và về lĩnh vực nào, cũng đều được đưa ra trên
cơ sở phân tích bằng cách này hay cách khác và ở những mức độ khác
nhau. Do vậy có thể nói rằng để quản lý doanh nghiệp giỏi các nhà quản
lý không thể không nắm vững công cụ phân tích kinh tế.
Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền chặt chẽ trước hết
với công tác hạch toán kinh tế và kế hoạch hoá trong doanh nghiệp.
Đối với hạch toán kinh tế, phân tích chính là công cụ giúp cho hạch
toán đảm bảo được nguyên tắc cơ bản của nó là sản xuất kinh doanh có
hiệu quả- lấy thu bù chi và có lãi. Phân tích hoạt động sản xuất kinh
doanh, với những quan điểm đổi mới và phương pháp thích hợp, có thể
giúp cho hạch toán kinh tế hiện nay khắc phục được những nhược điểm
vốn có ở thời kỳ quản lý kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước kia như
tính giả tạo, trùng lặp, thiếu khách quan, thiếu trung thực và đặc biệt là
thiếu tự giác quan tâm đến hiệu quả kinh tế thực sự của sản xuất kinh
doanh.

Đối với công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp, tác dụng của phân
tích hoạt động sản xuất kinh doanh thể hiện trên các mặt sau:
 Phân tích nhằm đánh giá bản thân kế hoạch theo những yêu cầu của
tính khoa học đòi hỏi, như tính cân đối và toàn diện, tính tiên tiến, tính
hiện thực
 Phân tích nhằm đánh giá quá trình và kết quả thực hiện kế hoạch, nhờ
đó doanh nghiệp có cơ sở để điều tiết quá trình sản xuất kinh doanh
nhằm đạt được các mục tiêu kế hoạch đặt ra.
 Phân tích cũng là một bước quan trọng trong quy trình xây dựng chiến
lược kinh doanh nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong dài
hạn của doanh nghiệp.
Trong phạm vi rộng hơn, chẳng hạn như đối với các công ty hoặc
ngành, phân tích kinh tế ngoài những ý nghĩa trên còn có tác dụng như
một công cụ đánh giá so sánh các đơn vị về hoạt động sản xuất kinh
doanh và hiệu quả; nó còn có ý nghĩa khi giúp các nhà quản lý ra các
quyết định sắp xếp lại cơ cấu tổ chức sản xuất trong ngành và trong các
doanh nghiệp.
1.1.2. Đối tượng của phân tích hoạt động sản xuất kinh
doanh ở các doanh nghiệp
Đối tượng của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh
nghiệp là thực trạng và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh tại
doanh nghiệp phân tích trong một thời kỳ nhất định.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bao gồm rất
nhiều mặt và các khâu, từ chuẩn bị sản xuất đến sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, diễn ra trong không gian và thời gian. Đối tượng của phân tích, xét
một cách cụ thể, là tất cả các mặt hoạt động đó, được tổng hợp lại và thể
hiện thông qua một tổng thể các chỉ tiêu phân tích.
Chỉ tiêu phân tích là sự cụ thể hoá, chi tiết hoá đối tượng phân tích.
Các chỉ tiêu phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
cần phải được phân loại để đảm bảo tính hệ thống trong quá trình phân
tích. Tuỳ theo mục đích yêu cầu và phạm vi phân tích mà người ta có thể
áp dụng các phân loại khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại chỉ
tiêu thường được sử dụng:
 Chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chất lượng.
 Chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu cục bộ.

 Chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị.
 Chỉ tiêu tuyệt đối và chỉ tiêu tương đối.
 Chỉ tiêu theo các mặt của sản xuất kinh doanh.
 Chỉ tiêu kế hoạch và chỉ tiêu thống kê, hoặc dự báo
Trong quá trình phân tích, các chỉ tiêu có thể được lấy trực tiếp từ
các báo biểu (thống kê hạch toán hay kế hoạch), hoặc được tính toán từ
các chỉ tiêu có sẵn, thậm chí có thể phải tổ chức khảo sát thực tế để thu
thập.
Các chỉ tiêu phân tích còn được chia thành chỉ tiêu kết quả- là đối
tượng phân tích, và chỉ tiêu nhân tố - là nguyên nhân hình thành và tác
động đến các chỉ tiêu kết quả. Các chỉ tiêu nhân tố chính là động lực của
quá trình sản xuất kinh doanh. Mỗi khi các chỉ tiêu nhân tố thay đổi sẽ
làm thay đổi các điều kiện sản xuất kinh doanh và qua đó tác động làm
thay đổi các chỉ tiêu kết quả. Giữa các chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu nhân tố
luôn có mối quan hệ nhân quả với nhau cả về chất và lượng.
Tuy nhiên, trong thực tế công tác phân tích kinh tế hoạt động sản
xuất kinh doanh có nhiều khi người ta phải chấp nhận tính tương đối của
sự phân loại này. Trong một trường hợp, chỉ tiêu nào đó được coi là chỉ
tiêu kết quả và là đối tượng cụ thể của phân tích, chịu sự tác động của
nhiều chỉ tiêu nhân tố khác nhau, thì trong một mối quan hệ khác nó lại có
thể được coi là một trong những nhân tố tác động tới một chỉ tiêu phân
tích khác. Cũng có những chỉ tiêu hầu như luôn luôn được coi là những
nhân tố ban đầu đối với quá trình sản xuất kinh doanh, chẳng hạn như các
điều kiện mỏ- địa chất đối với sản xuất kinh doanh trong ngành công
nghiệp mỏ. Trong phân tích cũng có những trường hợp một số chỉ tiêu
được coi là tác động qua lại với nhau, đòi hỏi người phân tích phải thận
trọng trong khi đưa ra các kết luận.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh các nhân tố tập hợp thành các
điều kiện của sản xuất kinh doanh và tạo tiền đề cho quá trình đó. Công
tác phân tích với đối tượng là kết quả sản xuất kinh doanh không thể
không xuất phát từ việc nghiên cứu các điều kiện sản xuất kinh doanh.
Tuỳ theo nội dung và yêu cầu phân tích có thể phân loại các điều
kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo những dấu hiệu khác
nhau, như:
 Những điều kiện thuận lợi và khó khăn.

 Những điều kiện chủ quan và khách quan.
 Những điều kiện chủ yếu và thứ yếu.
 Những điều kiện trước mắt và lâu dài.
 Những điều kiện tác động trực tiếp và gián tiếp.
 Những điều kiện thuộc môi trường kinh doanh (môi trường
nền kinh tế và môi trường ngành) và điều kiện bên trong
doanh nghiệp.
 Điều kiện sản xuất kinh doanh được phân chia theo tính chất 2
mặt có liên quan chặt chẽ đến nhau, là mặt vật chất kỹ thuật và
mặt kinh tế xã hội của quá trình.
Theo cách phân loại này, các điều kiện sản xuất kinh doanh gồm 2
nhóm chủ yếu, là:
Nhóm thứ nhất gồm các điều kiện vật chất- kỹ thuật, đó là:
*0 Các điều kiện tự nhiên, như điều kiện địa lý, tài nguyên, đất đai,
khí hậu Đối với các mỏ khai thác thì đó cụ thể là trữ lượng tài nguyên,
tình trạng của khoáng sàng, phân bố địa lý, điều kiện khí hậu
*1 Công nghệ sản xuất: loại hình công nghệ, tính chất và mức độ tiên
tiến của phương pháp sản xuất. Chẳng hạn đó là phương pháp mở vỉa, hệ
thống khai thác, sự bố trí các khâu trong dây chuyền công nghệ, tính đồng
bộ và tiên tiến của dây chuyễn sản xuất.
*2 Kỹ thuật sản xuất: số lượng và chất lượng của máy móc thiết bị sản
xuất, trình độ cơ giới hoá và tự động hoá các quá trình sản xuất.
*3 Trình độ tổ chức sản xuất và tổ chức lao động: gồm các hình thức
và mức độ hợp lý, tiên tiến của các hình thức tổ chức sản xuất và tổ chức
lao động, sự phù hợp của chúng với xu thế đổi mới hiện nay
Nhóm thứ hai là các điều kiện kinh tế- xã hội, bao gồm:
*4 Hoàn cảnh kinh tế- xã hội chung trong nước, trong ngành và ở địa
phương.
*5 Trình độ của công tác kế hoạch hoá và hạch toán kinh tế tại doanh
nghiệp.
*6 Sự nắm bắt và áp dụng các phương pháp quản lý kinh doanh mới,
tiên tiến và phù hợp với cơ chế kinh tế.
*7 Các chế độ khuyến khích vật chất và tinh thần trong doanh nghiệp.

*8 Công tác tổng kết, phổ biến kinh nghiệm lao động tiên tiến, tổ chức
các phong trào thi đua lao động sản xuất.
*9 Trình độ dân chủ hoá trong quản lý và tổ chức sản xuất ở doanh
nghiệp.
Trong số các điều kiện sản xuất kinh doanh kể trên thông thường
vai trò quyết định thuộc về các điều kiện vật chất kỹ thuật, đặc biệt là
công nghệ và kỹ thuật sản xuất. Tuy nhiên trong giai đoạn đổi mới về
quan điểm và phương pháp quản lý kinh tế như những năm vừa qua và
hiện nay, như thực tế đã chỉ ra, việc triệt để tận dụng các thuận lợi trong
các điều kiện kinh tế- xã hội mới đã đem laịo những kết quả to lớn, khẳng
định tính đúng đắn của đường lối đổi mới kinh tế mà Đảng Cộng sản Việt
nam và chính phủ đang thực hiện trên đất nước ta.
1.1.3. Nhiệm vụ của phân tích hoạt động sản xuất kinh
doanh trong các doanh nghiệp công nghiệp
 Nghiên cứu toàn diện các mặt của hoạt động sản xuất kinh doanh theo
các điều kiện sản xuất kinh doanh, tổng hợp lại để có thể đánh giá thực
trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang ở trình độ nào, tốt
hay xấu và tại sao.
 Đánh giá mức độ đạt các mục tiêu đã đề ra trong các kế hoạch (Tuỳ
theo mục tiêu và kỳ phân tích mà đó là kế hoạch gì)
 Đánh giá trình độ tận dụng các nguồn tiềm năng của sản xuất kinh
doanh mhư vốn, lao động, năng lực sản xuất Phát hiện những nguồn
lực chưa được tận dụng và khả năng tận dụng chúng thông qua các
biện pháp tổ chức - kỹ thuật.
 Giúp cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
 Làm cơ sở cho việc thường xuyên điều tiết quá trình sản xuất kinh
doanh nhằm đạt các mục tiêu đã định và có hiêụ quả cao.
 Tích luỹ các tài liệu và kinh nghiệm phục vụ công tác nghiên cứu kinh
tế và kế hoạch hoá ở doanh nghiệp.
1.2.PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KINH TẾ
Phương pháp phân tích kinh tế có thể hiểu là cách thức thực hiện
việc phân tích. Lựa chọn một phương pháp đúng đắn và thích hợp có ý
nghĩa quyết định đến tính chính xác của kết quả phân tích, khiến cho sau
khi phân tích có thể hiểu được, giải thích được bản chất của vấn đề và rút
ra được những kết luận chính xác.

Cơ sở lý luận chung của phương pháp phân tích kinh tế là các luận
điểm của triết học duy vật biện chứng và học thuyết kinh tế chính trị Mác-
Lênin, được áp dụng sáng tạo và phát triển trong điều kiện của công cuộc
đổi mới do Đảng Cộng sản Việt nam khởi xướng và lãnh đạo nhân dân ta
thực hiện.
Trên cơ sở phương pháp luận đó, khi phân tích các hiện tượng kinh
tế phải đặt chúng trong những mối liên hệ qua lại; phải thấy được sự vận
động của các hiện tượng, sự phát triển và động lực phát triển của chúng;
phải tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan đang hoạt động trong nền
kinh tế; phải nhận thức được những quan điểm mới, tiến bộ và áp dụng
chúng một cách sáng tạo trong công tác phân tích kinh tế.
Một cách cụ thể hơn, trong quá trình thực hiện phân tích kinh tế,
phương pháp luận chung đòi hỏi:
 Việc phân tích bắt đầu từ đánh giá tổng quát, sau đó đi sâu vào
phân tích theo không gian và thời gian. Làm như vậy vừa đảm
bảo tính nhất quán tổng thể, vừa có những trọng tâm và mức
độ sâu sắc cần thiết.
 Phải phát hiện và nghiên cứu bản chất của các mối liên hệ qua
lại giữa các sự kiện kinh tế, các chỉ tiêu phân tích, trong đó cần
phân biệt tính chất tác động của các mối liên hệ đó.
 Cần nhận biết và nghiên cứu xu hướng phát triển của các hiện
tượng kinh tế cũng như động lực cho sự phát triển đó.
 Phải có nhận thức đúng đắn về các quy luật kinh tế khách quan
và sự hoạt động của chúng trong những điều kiện cụ thể.
 Kịp thời nhận thức những quan điểm mới tiến bộ và thể hiện
chúng trong quá trình phân tích.
 Qua phân tích phải rút ra những kết luận cụ thể, chỉ ra những
ưu nhược điểm và nguyên nhân, những tiềm năng chưa được
tận dụng và khả năng tận dụng chúng.
 Phải biết vận dụng lý luận và phương pháp phân tích một cách
sáng tạo, có xét đến những đặc điểm điều kiện riêng của đối
tượng phân tích.
 Đối với người làm công tác phân tích cần xác định rõ quan
điểm khách quan, khoa học, trung thực và toàn diện trong các
tính toán và lập luận.

Trên cơ sở phương pháp luận chung như trên, công tác phân tích
kinh tế được thực hiện thông qua các phương pháp cụ thể có tính nghiệp
vụ. Có thể phân loại các phương pháp đó thành các nhóm sau:
Nhóm thứ nhất gồm các phương pháp thống kê. Chúng có đặc
điểm chung là dựa trên sự phân tích các số liệu thống kê để đánh giá về
mặt số lượng. Một số phương pháp thống kê cũng dùng để xác định ảnh
hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, song chỉ dừng lại ở việc
đánh giá về mặt số lượng, với một mức độ giả định về điều kiện nhất định,
chưa đề cập bản chất của các mối liên hệ giữa các nhân tố với chỉ tiêu
phân tích.
Một số phương pháp thường được dùng thuộc nhóm này là:
a) So sánh
Đây là phương pháp phổ biến nhất, dễ thực hiện thông qua việc so
sánh đối chiếu giữa các con số để có một kết luận về sự chênh lệch giữa
chúng.
Tuỳ theo đối tượng phân tích mà các chỉ tiêu đem so sánh có thể là
giữa số thực tế và số kế hoạch hoặc là các mục tiêu đề ra, hoặc là định
mức của cùng một thời kỳ; có thể so sánh giữa số thực tế của kỳ phân tích
với số thực tế của kỳ gốc, so sánh giữa các đơn vị sản xuất với nhau hoặc
với một đơn vị điển hình nào đó; so sánh với chỉ tiêu bình quân của một
giai đoạn hoặc của ngành; so sánh giữa số thực tế đạt được với khả năng
có thể đạt được
Kết quả của phép so sánh là xác định được mức chênh lệch (bằng số
tương đối hoặc tuyệt đối) giữa các chỉ tiêu đem so sánh.
Để thực hiện phép so sánh cần đảm bảo các điều kiện so sánh được
giữa các chỉ tiêu, đó là:
*10 Thống nhất về nội dung kinh tế. Điều này rất cần được lưu ý có
những sự thay đổi về quan điểm kinh tế, những quy định về tên gọi và nội
dung của các chỉ tiêu v.v. Khi đó để so sánh cần tính lại chỉ tiêu theo quan
điểm hoặc quy định mới.
*11 Thống nhất về phương pháp tính chỉ tiêu. Điều này xuất phát từ chỗ
có những chỉ tiêu có thể được tính từ những phương pháp khác nhau và vì
vậy cho những kết quả không giống nhau.
*12 Thống nhất về đơn vị tính, thời gian và quy mô so sánh.

Phép so sánh có thể là so sánh đơn giản hoặc so sánh có điều chỉnh,
tức là có liên hệ đến một chỉ tiêu thứ ba. Đây chính là sự quy đổi về cùng
một điều kiện để đảm bảo tính so sánh được của chỉ tiêu.
b) Chi tiết hoá
Chi tiết hoá là nghiên cứu hiện tượng theo những thành phần chi
tiết của chúng. Việc chi tiết hoá có thể thực hiện theo không gian hoặc
thời gian, ví dụ:
 Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu. Cách này thường
được dùng trong phân tích sâu nhằm đánh giá cơ cấu hoặc ảnh
hưởng của các thành phần cơ cấu đến chỉ tiêu chung.
 Chi tiết hoá theo các đơn vị sản xuất, như các phân xưởng, tổ
sản xuất, các khâu của dây chuyền công nghệ với mục đích
đánh giá đóng góp của các đơn vị đó trong chỉ tiêu kết quả
chung, xác định các đơn vị tiên tiến hoặc yếu kém, tính hợp lý
và đồng bộ của cơ cấu tổ chức sản xuất.
 Chi tiết theo thời gian, nhằm theo dõi sự hình thành và biến
động của chỉ tiêu phân tích, đánh giá tính nhịp nhàng của quá
trình sản xuất kinh doanh.
c) Gộp nhóm
Gộp nhóm là phương pháp chọn từ tổng thể ra một số nhóm hoặc
bộ phận trên cơ sở một dấu hiệu chung nào đó theo các khoảng phân chia
của dấu hiệu đó. Chẳng hạn có thể sử dụng phương pháp này khi phân
tích trình độ hoàn thành mức lao động, phân tích mối liên hệ giữa năng
suất lao động và trình độ nghề nghiệp của công nhân Các khoảng sẽ cho
thấy sự phân bố của chỉ tiêu theo dấu hiệu được nghiên cứu.
d) Phương pháp chỉ số
Được sử dụng rộng rãi khi phân tích sự biến động của chỉ tiêu, hoặc
xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích. Có
nhiều loại chỉ số được áp dụng trong phân tích kinh tế (cụ thể hơn có thể
tham khảo giáo trình Thống kê).
e) Phương pháp đồ thị
Các loại biểu đồ và đồ thị thường dùng trong phân tích gồm có:
+ Biểu đồ phân tích sự biến động của chỉ tiêu theo thời gian: cho
thấy sự phát triển của chỉ tiêu phân tích trong giai đoạn nhất định, đồng

thời cũng có thể giúp cho việc dự đoán chỉ tiêu trong tương lai (dự đoán
xu thế).
+ Biểu đồ hình khối: biểu hiện các chỉ tiêu phân tích bằng các hình
khối. Trên biểu đồ các khối được thể hiện theo một tỷ lệ nhất định để đảm
bảo tính so sánh được. Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ thấy, dễ nhận
biết. Tuy nhiên tính định lượng của biểu đồ không cao.
+ Biểu đồ phân tích kết cấu: được sử dụng để thể hiện tỷ lệ các bộ
phận cấu thành một tổng thể nào đó, chẳng hạn kết cấu tài sản, kết cấu lao
động hoặc kết cấu giá thành sản phẩm. Diện tích các phần trên biểu đồ
được thể hiện theo một tỷ lệ và phản ánh phần kết cấu nhất định nào đó
của chỉ tiêu.
f) Phương pháp hệ số kết cấu
Phương pháp này dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các chỉ
tiêu nhân tố đến chỉ tiêu phân tích trong trường hợp các nhân tố tạo nên
chỉ tiêu phân tích có quan hệ với nhau dưới dạng tích số và bậc 1.
Ví dụ: xác định ảnh hưởng của sự biến động của các nhân tố số
lượng công nhân sản xuất (N), số ngày làm việc thực tế bình quân trong
kỳ (T
1
), số giờ làm việc bình quân trong ngày của 1 công nhân (T
2
) và
năng suất lao động bình quân 1 giờ của công nhân tính bằng giá trị (P) đến
giá trị sản phẩm sản xuất ra trong kỳ (G)
Biểu thức quan hệ kinh tế có dạng:
G = N.T
1
.T
2
.P, đ (1-1)

Số liệu ví dụ và tính toán được thể hiện trong bảng 1.1
Bảng 1.1
Chỉ
tiêu
Đơn
vị
tính
Kỳ gốc Kỳ phân
tích
Chỉ
số
thực
hiện
Chỉ số
chênh
lệch
Hệ số
kết cấu
Mức độ
ảnh
hưởng
N Người
500 480 0.960 -0.040 -0.357 -35497
T
1
Ngày
23 22 0.957 -0.043 -0.384 -30182
T
2
Giờ
7.1 7.3 1.028 0.028 0.250 24858
P ngđ.
12 14 1.167 0.167 1.491 140253
0.112 +99432
G ng.đ.
979800 1079232
∆G
+ 99432
Tính toán được thực hiện theo các bước sau:
 Tính chỉ số thực hiện (Nếu đối tượng tăng thì chỉ số là kỳ
phân tích /kỳ gốc. Nếu đối tượng giảm thì tính ngược lại: kỳ
gốc/kỳ phân tích.
 Tính chỉ số chênh lệch, có xét dấu +, - , sau đó cộng đại số để
được tổng các chỉ số chênh lệch.
 Tính hệ số kết cấu của từng nhân tố, bằng tỷ số giữa chỉ số
chênh lệch của nhân tố đó với tổng các chỉ số chênh lệch, có xét
dấu.
 Tính mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân
tích bằng cách lấy hệ số kết cấu (có xét dấu) nhân với tổng chênh
lệch của chỉ tiêu phân tích (tức là đối tượng phân tích).
Nếu tính toán đúng thì tổng đại số các ảnh hưởng tính được sẽ bằng
đối tượng phân tích. Trong ví dụ trên là 99432 ng.đ.
g) Phương pháp thay thế liên hoàn và số chênh lệch
Phương pháp thay thế liên hoàn và số chênh lệch được dùng để xác
định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.
Khi áp dụng phép thay thế liên hoàn người ta đặt đối tượng phân
tích vào những điều kiện giả định khác nhau. Các nhân tố trong biểu thức


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét