loại gỗ ngắn ngày, có tốc độ tăng trưởng nhanh. Hơn 80% gỗ khai thác từ các
rừng trồng được sử dụng làm nguyên liệu thô cho ngành công nghiệp giấy. Chỉ
khoảng 300.000 – 400.000 m
3
gỗ khai thác từ các khu rừng trồng có chất lượng
tốt (chủ yếu là cây cao su, thông và keo) là được sử dụng trong lĩnh vực chế biến
đồ gỗ nội thất và mỹ nghệ.
Nhằm chủ động nguồn nguyên liệu gỗ, hiện nay Việt Nam cũng đang tích cực
xây dựng các nhà máy sản xuất ván gỗ nhân tạo với những nhà máy chủ yếu
sau: nhà máy ván sợi MDF Gia Lai công suất 54.000m
3
sản phẩm/năm, nhà máy
MDF Sơn La với công suất 15.000 m
3
sản phẩm/năm, nhà máy MDF Bình
Thuận với công suất 10.000 m
3
sản phẩm/năm, các nhà máy ván dăm Thái
Nguyên có công suất 16.500 m
3
sản phẩm/năm, Thái Hòa (Nghệ An) 15.000m
3
và Hoành Bồ (Quảng Ninh) 3.000m
3
/năm.
II.2.1.1.2. Nguồn nhập khẩu
Để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp chế biến gỗ trong khi nguồn nguyên
liệu gỗ trong nước thiếu hụt cả về số lượng và chất lượng, hàng năm các doanh
nghiệp gỗ Việt Nam nhập khẩu từ 250.000 – 300.000m
3
gỗ nguyên liệu từ nước
ngoài. Lượng gỗ nhập khẩu từ nước ngoài tăng đều qua các năm, từ 161 triệu
USD năm 2001 lên đến 651 triệu USD năm 2005. Tổng kim ngạch gỗ nhập khẩu
vào Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2005 là 1.770 triệu USD, với tốc độ tăng
bình quân hàng năm là 33,8%. (xem bảng 1.2).
Bảng 1.2. Kim ngạch gỗ nhập khẩu (2001 – 2005).
Đơn vị tính: triệu USD
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
Kim ngạch 161 179 240 539 651
(Nguồn: Báo cáo hoạt động thương mại Việt Nam 2005, Tài liệu phục vụ Hội
nghị thương mại toàn quốc tháng 3 - 2006, Bộ Thương mại )
Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu gỗ từ hai nhóm thị
trường cơ bản:
- Từ các nước lân cận trong khu vực Đông Nam Á như Lào, Căm-Pu-Chia,
Malaysia, Indonesia… Việc nhập khẩu gỗ từ các thị trường này có thuận lợi lớn
là khoảng cách về địa lý không lớn nên chi phí vận chuyển thấp. Hơn nữa, rừng
ở các nước này chủ yếu là rừng tự nhiên, có điều kiện tự nhiên tương đồng với
Việt Nam nên chủng loại gỗ rừng tương đối giống với Việt Nam, các doanh
nghiệp không cần quá tốn công để tìm hiểu về đặc tính kỹ thuật của gỗ nhập
khẩu. Tuy nhiên, nhập khẩu từ các thị trường này cũng có nhiều rủi ro. Chính
sách quản lý khai thác gỗ rừng ở các nước này thường xuyên thay đổi. Thêm
5
vào đó, về dài hạn, đây không phải là thị trường ổn định cho các doanh nghiệp
nhập khẩu gỗ Việt Nam do các nước này ngày càng hạn chế việc khai thác gỗ
nguyên liệu xuất khẩu bởi tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt và sự khuyến cáo
của các tổ chức quốc tế. Mặt khác, ở các nước này trong khi để xâm nhập vào
các thị trường nhập khẩu sản phẩm đồ gỗ lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản
hay EU thì các doanh nghiệp Việt Nam phải có chứng chỉ rừng. Hiện ở khu vực
Đông Nam Á chỉ có Malaysia là nước làm tốt công tác quản lý rừng thông qua
hệ thống chứng chỉ rừng.
- Từ các nước có khoảng cách xa về địa lý nhưng có ngành công nghiệp gỗ phát
triển như New Zealand, Australia, Nam Phi, Canada và các nước thuộc bán đảo
Scandinavia như Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan… Nhập khẩu gỗ nguyên liệu
từ các thị trường này có chi phí vận chuyển lớn, nên thường làm cho giá thành
gỗ nguyên liệu cao. Tuy nhiên, đây là những thị trường có ngành công nghiệp
gỗ rất phát triển, sản lượng gỗ cung cấp lớn và ổn định với chất lượng tốt và các
khu rừng được cấp chứng chỉ. Hiện nay, xu thế phổ biến trên thế giới là quản lý
rừng thương mại bền vững thông qua nhiều biện pháp trong đó biện pháp hữu
hiệu và phổ biến nhất là quản lý bằng hệ thống chứng chỉ cấp cho rừng trồng.
Các loại chứng chỉ rừng phổ biến hiện nay là hệ thống FSC (Forest Stewardship
Council), hệ thống ISO 14001, hệ thống sáng kiến rừng bền vững Mỹ (the
American Sustainable Forestry Initiative), hệ thống của Hội đồng chứng nhận
rừng châu Âu Pan PEFC (Pan European Forest Certification Council), trong đó
phổ biến nhất là hệ thống FSC với tiêu chí quản lý tài nguyên rừng bền vững,
hướng tới lợi ích lâu dài về kinh tế, xã hội và môi trường cho các thế hệ tương
lai. Các doanh nghiệp Việt Nam nên hướng tới lựa chọn nhập khẩu gỗ nguyên
liệu từ các thị trường được cấp chứng chỉ rừng, đặc biệt là chứng chỉ FSC.
II.2.1.2. Thị trường xuất khẩu
Khái niệm xuất khẩu lâm sản
Hiểu chung nhất, xuất khẩu lâm sản là các hoạt động trong thị trường lâm sản
nhằm di chuyển một lượng hàng hoá (lâm sản) và các dịch vụ đi kèm từ trong
nước ra nước ngoài để thu về lơị nhuận.
Thị trường gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể
trong những năm gần đây. Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng qua các năm
(xem Bảng 1.3). Hiện nay gỗ và lâm sản đã trở thành một trong 10 mặt hàng
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ trong giai đoạn
2001 – 2005 là 4.039 triệu USD, với tốc độ tăng trung bình tương đối cao và ổn
định là 39,7%/năm.
Bảng 1.3. Kim ngạch xuất khẩu gỗ (2001 – 2005)
Đơn vị tính: triệu USD
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
6
Kim ngạch 335 435 567 1139 1563
(Nguồn: Báo cáo hoạt động thương mại Việt Nam 2005, tài liệu phục vụ Hội nghị
thương mại toàn quốc tháng 3 -2006, Bộ Thương mại )
Sản phẩm gỗ xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam được chia thành 5
nhóm chính:
- Nhóm 1: sản phẩm gỗ thô (gỗ tròn, gỗ xẻ…)
- Nhóm 2: dăm gỗ, bột gỗ chủ yếu làm từ gỗ rừng trồng như gỗ keo, gỗ bạch
đàn…
- Nhóm 3: sản phẩm đồ gỗ ngoài trời như bàn ghế vườn, ghế băng, ghế xích đu
làm hoàn toàn từ gỗ hoặc gỗ kết hợp với các nguyên liệu khác như nhựa, kim
loại, đá…
- Nhóm 4: sản phẩm đồ gỗ trong nhà như bàn ghế, giường, tủ, giá sách, ván
sàn…
- Nhóm 5: sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ được làm chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên áp
dụng các công nghệ truyền thống như chạm, khắc, khảm…
Hiện nay, đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt ở khoảng 120 nước trên
thế giới. Đồ gỗ Việt Nam được xuất khẩu thông qua hai hình thức chủ yếu là:
(1) Gia công xuất khẩu cho các nhà xuất khẩu Đài Loan, Singapore, Hàn
Quốc… để các nước này tiếp tục xuất khẩu sang các nước thứ ba dưới nhãn hiệu
của họ. Đây là hình thức xuất khẩu chủ yếu trong những năm trước đây khi các
doanh nghiệp gỗ Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong công nghệ chế biến,
thiết kế mẫu mã cũng như năng lực tìm kiếm thị trường và khách hàng còn hạn
chế. Hiện nay, hình thức xuất khẩu này đang dần được thu hẹp, nhường chỗ cho
hình thức xuất khẩu trực tiếp.
(2) Xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường như Mỹ, Nhật Bản, EU, Nga… với
nhãn hiệu của chính các doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nay, trên thị trường gỗ
thế giới, Việt Nam.
II.2.1.3. Phân tích tình hình xuất khẩu lâm sản tại Việt Nam từ
năm 2006- 2009
Trong những năm gần đây, sản phẩm gỗ đã trở thành một trong 5 mặt hàng xuất
khẩu lớn của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của VN liên tục tăng cao từ
năm 2000 đến nay. Năm 2007, đồ gỗ đứng thứ 5 trong số các mặt hàng xuất
khẩu lớn nhất. Tuy nhiên việc tiêu thụ nội địa các sản phẩm gỗ lại chưa được
quan tâm đầy đủ. Sau khi Việt Nam là thành viên của WTO, sản phẩm gỗ của
các nước thành viên sẽ tràn vào Việt Nam và được phép kinh doanh một cách
bình đẳng với các doanh nghiệp trong nước. Đây chính là một khó khăn rất lớn
mà các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đang phải đối mặt.
II.2.1.3.1. Năm 2006
7
Kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ (chủ yếu là mây, tre, cói, thảm…)
đạt 1,7 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm ngoái. xuất khẩu sản
phẩm gỗ vào thị trường EU ước đạt 521,9 triệu USD.Với sự chuẩn bị ra
nhập WTO, thị trường lâm sản Việt Nam sẽ phải đứng trước nhiều thách
thức mới.
II.2.1.3.2. Năm 2007
Sau khi chính thúc ra ra nhập WTO, chịu nhiều áp lực về thuế, giá, chính sách,
cạnh tranh trên thị trường Kim ngạch xuất khẩu có phần giảm dần, song vẫn
đạt được kết quả nhất định. Tháng 12/07, kim ngạch xuất khẩu lâm sản cả nước
đạt 261,22 triệu USD, tăng 19,8% so với tháng 11/07 và tăng 45,1% so với
tháng 12/06. Tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản cả năm 2007 đạt 2,37 tỷ USD,
tăng 22,8% so với năm 2006. Cả năm 2007, sản phẩm lâm sản của Việt Nam đã
xuất khẩu được sang 94 thị trường trên thế giới, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm
của ta sang một số thị trường đã có sự tăng trưởng cao như Mỹ, Anh, Đức,
Trung Quốc, Hàn Quốc, Ý, Canada, Áo, Nga…
Xuất khẩu lâm gỗ và sản phẩm gỗ 2007 s0 với 2006
Thị trường
xuất khẩu
gỗ, sản phẩm
gỗ thángThị
trường
Trị giá
(USD)
12T/07
S0 12T/06
(%)
Mỹ 89.139.517 944.287.533 27,42
Nhật Bản 23.165.217 300.600.797 6,70
Anh 22.203.314 196.187.260 44,81
Đức 19.247.994 96.602.418 38,57
Pháp 16.615.283 91.620.005 10,12
Trung Quốc 13.510.122 168.537.081 78,57
Hà Lan 9.801.037 50.086.217 9,20
Hàn Quốc 8.153.963 83.771.180 27,85
Italy 6.506.991 33.041.336 42,34
Australia 6.011.745 59.909.463 10,65
Tây Ban Nha 5.909.828 34.402.399 23,44
Canada 5.296.827 47.282.187 41,38
Bỉ 4.744.611 35.900.751 24,35
Đài Loan 3.937.490 45.414.715 -9,38
Thuỵ Điển 3.333.918 18.671.535 -0,26
Đan Mạch 2.602.850 18.458.726 -4,91
Phần Lan 2.476.805 14.043.687 28,01
8
Ai Len 2.158.576 20.139.699 21,26
Ba Lan 1.406.299 6.253.820 41,39
Hy Lạp 1.379.594 8.635.757 9,17
Thổ Nhĩ Kỳ 1.062.522 4.323.514 34,08
New Zealand 1.001.687 17.023.454 10,27
Singapore 941.551 7.891.023 -15,08
Malaysia 803.678 11.608.355 -23,17
Hồng Kông 727.862 6.929.364 -3,97
Áo 692.500 3.229.057 282,88
Nga 652.737 4.272.473 225,22
Na Uy 507.144 5.250.238 -0,71
Campuchia 146.154 1.052.050 -17,52
II.2.1.3.3. Năm 2008
Trong những năm qua, ngành công nghiệp gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ Việt
Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Kim ngạch xuất khẩu không ngừng
tăng lên. Sản phẩm gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực và đóng
góp quan trọng vào sự tăng trưởng xuất khẩu của cả nước.
Tuy nhiên từ cuối năm 2007 và 2008 do tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu cùng với những khó khăn ở trong nước như thiếu vốn, lãi xuất
cao, chi phí đầu tư tăng,… Lâm nghiệp đang gặp phải rất nhiều khó khăn và đối
mặt với nguy cơ giảm mạnh tăng trưởng trong giai đoạn tới. Theo số liệu thống
kê chính thức, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam trong tháng 12
đạt 269,4 triệu USD, tăng 17,1% so với tháng 11 và tăng 3,1% so với cùng kỳy
năm 2007. Trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam
đạt 2,8 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm ngoái và chỉ đạt được 93,3% kế
hoạch năm.
Về thị trường, trong năm 2008, Mỹ duy trì là thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ
chủ lực của Việt Nam, tuy vậy, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường này
đã có dấu hiệu chậm lại và càng thể hiện rõ nét hơn trong những tháng cuối năm.
Trong tháng 12, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Mỹ đạt 88,7 triệu USD,
tăng 7% so tháng 11 và chỉ tăng 0,4% sovới cùng kỳ năm ngoái. Trng năm 2008,
tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường này đạt
1,049 tỷ USD, tăng 10,7% so với năm 2007 và chiếm 38% tỷ trọng. Như vậy,
xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường Mỹ vẫn khá khả quan. Hiện nay, kinh tế
Mỹ đang rơi vào suy thoái sâu đồng nghĩa với việc người dân Mỹ cắt giảm nhu
cầu tiêu dùng. Vì vậy, để duy trì kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này, các
9
doanh nghiệp nên chú trọng hơn vào các sản phẩm giá rẻ, nhằm cạnh tranh với
các đối thủ châu Á khác như Trung Quốc, Malaysia… Về sản phẩm, đến hơn
70% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ vào Mỹ là đồ nội thất dùng
trong phòng ngủ; tiếp đến là đồ nội thất dùng trong phòng khách, phòng ăn
chiếm 15%; đồ nội thất văn phòng chiếm 10%…
Nhật Bản là nhà nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn thứ 2 của Việt Nam với tốc độ tăng
trưởng về kim ngạch trong năm 2008 tăng khá, như vậy, xuất khẩu sản phẩm gỗ
sang thị trường này đã dần được hồi phục. Trong tháng 12, kim ngạch xuất khẩu
sản phẩm gỗ sang Nhật Bản đạt 36,6 triệu USD, tăng 13% so tháng 11 và tăng
57,1% so cùng kỳ năm ngoái. Trong năm 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu sản
phẩm gỗ sang thị trường này đạt 371,7 triệu USD, tăng 21% so cùng kỳ năm
ngoái. Dự báo, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Nhật Bản trong năm tới
đạt khoảng 450 triệu USD, tăng 21% so năm 2008.
Trong năm 2008, xuất khẩu sản phẩm gỗ sang khối EU cũng đạt khá, đạt 730,15
triệu USD, tăng 15,23% so năm 2007. Trong tháng 12/08, kim ngạch xuất khẩu
sản phẩm vào EU đạt khá, trên 100,5 triệu USD, tăng 45,8% so tháng trước và
tăng 24% so cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Anh đạt
cao nhất nhưng lại giảm so tháng 12/07; xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Đức, Pháp,
Hà Lan - những thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn của Việt Nam tăng mạnh;
còn xuất khẩu sang một số thị trường nhỏ nhưng đầy tiềm năng là Thuỵ Điển,
Phần Lan, Hy Lạp tăng rất mạnh… Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ
sang một số thị trường lại sụt giảm như Bỉ, CH Ai Len…
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng đã xúc tiến mạnh sản phẩm gỗ sang thị trường
Trung Đông thể hiện ở tăng trưởng kim ngạch như Ả Rập, Tiểu Vương quốc
Arập Thống nhất và một số thị trường khác như Nauy, Thái Lan, Nam Phi…
10
Một số biểu đồ phản ánh về hoạt động XK gỗ sang hoa kỳ năm 2008:
11
II.2.1.3.4. Năm 2009
Lâm sản Việt Nam xuất khẩu đạt 2,799 tỷ USD giảm 8,9% so với cùng kỳ năm
ngoái. Sản phẩm đồ gỗ Việt Nam đã xuất khẩu sang 120 quốc gia và vùng lãnh
thổ trên thế giới, tập trung vào các thị trường trọng điểm là Mỹ (chiếm 43,35%,
tăng 5,14%); Nhật Bản (chiếm 13,68%, tăng 0,64%); tiếp đến là Trung Quốc
(với 7,62%, tăng 1,83%).
Một số thị trường xuất khẩu chủ yếu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt nam trong
năm 2009
Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ
(10 nước có kim ngạch xuất khẩu cao)
Đơn vị tính: 1.000USD
TT Tên nước Năm 2008 Năm 2009 % tăng
1 Mỹ 1.063.990 1.100.184 103,40
2 Nhật Bản 378.839 355.366 93,80
3 Trung Quốc 145.633 197.904 135,89
4 Anh 197.651 162.748 82,34
5 Đức 152.002 106.047 69,77
6 Hàn Quốc 101.521 95.130 93,70
7 Pháp 101.316 70.357 69,44
8 Australia 75.427 67.492 89,48
9 Hà Lan 95.466 56.736 59,43
10 Canada 67.900 54.579 80,38
11 Khác 449.538 331.106 73,65
Tổng số 2.829.283 2.597.649
(nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)
12
II.2.1.4. Ngoài ra,Một số hoạt động xúc tiến thương mại về đồ gỗ và sản phẩm
gỗ như sau:
Trong nước:
Hội chợ Viwoofa 2008 do Hiệp hội Gỗ và Lâm sản VN phối hợp với Bộ
NN&PTNT, Bộ Công thương và UBND thành phố Hà Nội tổ chức, diễn
ra 11/2008. Hội chợ là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại
quan trọng của ngành công nghiệp gỗ, lâm sản Việt Nam nhằm mục đích
góp phần thúc đẩy các hoạt động phát triển sản xuất thu hút đầu tư, hỗ trợ
các doanh nghiệp đưa sản phẩm hàng hoá tiếp cận thị trường trong và
ngoài nước
Hội chợ quốc tế hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ và quà tặng Việt Nam
(LifeStyle Vietnam) do Hiệp hội xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt
Nam (VIETCRAFT) chủ trì phối hợp cùng Cục Xúc tiến thương mại
(Vietrade), Hội chế biến gỗ và thủ công mỹ nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
(HAWA) diễn ra tháng 4/2010 tại Trung Tâm Hội chợ triển lãm quốc tế
-Thành phố Hồ Chí Minh
Hội chợ Nông nghiệp quốc tế AgroViet 2010 tại Thành phố Hồ Chí
Minh/Đồng Nai vào quý III/2010
Hội chợ Nông nghiệp AgroViet 2010 tại Hà Nội vào quý IV/2010
Festival Lâm sản VN lần thứ nhất bao gồm các hoạt động xúc tiến
thương mại, Hội chợ triển lãm gỗ và lâm sản, liên hoan sinh vật cảnh, hội
thảo giao lưu, xúc tiến ký kết kinh doanh, tôn vinh tổ chức và cá nhân
xuất sắc trong ngành; hội thảo lâm sản đẹp, trao kỷ lục guiness lâm sản
đẹp…diễn ra trong tháng 3 /2011tại TP Quy Nhơn,
…………………
Quốc tế:
Hội chợ triển lãm đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ tại Nga và Hoa Kỳ diễn ra
vào tháng 9/2009
Thực hiện quảng bá sản phẩm nông lâm thủy sản Việt Nam vào thị
trường Trung Quốc, thời gian tháng 4/2010 nhân dịp Hội chợ Canton Fair
– Quảng Châu
Tham gia gian hàng tại Hội chợ kết hợp tổ chức Hội thảo quảng bá sản
phẩm Nông lâm thủy sản Việt Nam tại thị trường Hàn Quốc tháng 5/2010
nhân dịp Hội chợ triển lãm thực phẩm Quốc tế.
Thực hiện quảng bá sản phẩm Nông lâm thủy sản Việt Nam vào thị
trường Mexico và khảo sát thị trường Nam Mỹ vào Quý II-III/2010
13
II.2.2. THỊ TRƯỜNG PHI CHÍNH NGẠCH
Ngoài thị trường chính ngạch ra thì hoạt động của thị trường phi chính ngạch
cũng rất “sôi động”, các sản phẩm của thị trường này rất đa dạng , có thể kể đến
như:
Các loại gỗ, gỗ quý (tứ thiết, hương liệu ). Các sản phẩm này đi theo một
số con đường tiểu ngạch như bán cho các đơn vị, hộ sản xuất nhỏ trong nước để
các đơn vị này sản xuất đồ gia dụng, mỹ nghệ Thậm chí còn có thể được bán
qua biên giới một số nước láng giềng như Trung Quốc, Thái Lan, Lào,
Campuchia
Các loại động vật quý, hiếm đã bị cấm. Các sản phẩm này phục vụ cho
các nhà hàng, người sưu tầm, nhà khoa học, người có nhu cầu chữa bệnh, và
còn được bán sang cả một số nước láng giềng.
Nguồn gốc của các loại lâm sản này chủ yếu là do những người dân địa phương
sát rừng hoặc trong rừng trực tiếp khai thác, săn bắn để cung cấp cho các chủ thu
mua. (Rất nhiều khu rừng cấm, Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn thiên nhiên hình
thành nhiều con đường mòn do sự đi lại liên tục)
Thị trường phi chính ngạch này hoạt động tuy lén lút nhưng cũng không kém
phần sôi động và có tính cạnh tranh rất mạnh với thị trường chính ngạch. Từ đó
gây ra những tổn thất rất lớn về các mặt kinh tế - xã hội cho Nhà nước. Theo số
liệu được Cục Kiểm lâm (Bộ NNPTNT) thống kê từ 2006 đến hết tháng 4.2010
tại hội nghị sơ kết thực hiện thông tư liên tịch 144 về phối hợp lực lượng kiểm
lâm, công an và quân đội trong công tác bảo vệ rừng. Tổng số tiền thu qua xử
phạt, bán lâm sản tịch thu đạt hơn 860 tỉ đồng, trong đó nộp ngân sách hơn 717
tỉ đồng; xử lý gần 172 ngàn vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ phát triển rừng, tịch
thu gần 180 ngàn mét khối gỗ lâm sản
Chúng ta cùng nhìn lại lượng lâm sản bị tịch thu qua ba năm 2007-2009
II.2.2.1. Lâm sản bị tịch thu tính từ đầu năm đến tháng 12 năm 2007
Cả nước đã tịch thu được 18.936 m
3
gỗ tròn trong đó có 17.759,44 m
3
gỗ thường
và 1.176,56 m
3
gỗ quý hiếm, 23.061,64 m
3
gỗ xẻ, trong đó 19.759,18 m
3
gỗ
thường và 3.302,64 m
3
gỗ quý hiếm, thu giữ 7.701,00 con động vật, 1.007con
quý hiếm và 66.056kg thịt các loại. Ngoài ra các cơ quan chức năng cũng đã thu
giữ được nhiều loại lâm sản khác có giá trị lên tới gần 2 tỷ 70 triệu đồng.
Trong cả nước theo thống kê thì các tỉnh miền trung có số lượng lâm sản thu giữ
lớn nhất, trong đó đặc biệt là tỉnh Nghệ An với lượng gỗ tròn bị thu giữ là
1.442,16m
3
, trong đó có 136,17m
gỗ quý hiếm; lượng gỗ xẻ bị thu giữ là
3.542,37 m
3
trong đó 1631,58 m
3
gỗ thường và 1.910,79 m
3
gỗ quý hiếm.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét