Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

449 Một số giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam


Chương 1

-5-
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế hiện nay, một trong những nguyên nhân
chính gây ra những cuộc khủng hoảng kinh tế là do sự yếu kém của hệ thống ngân
hàng. Mối quan hệ chặt chẽ giữa ngân hàng – khách hàng – nền kinh tế, đòi hỏi
các ngân hàng phải chủ động trong mọi tình huống, dự báo, dự đoán được khả
năng xảy ra và đònh lượng rủi ro. Từ đó có biện pháp phòng ngừa hạn chế thấp
nhất tác động của rủi ro trong vai trò trung gian tài chính của mình.
Thời gian qua, ngành Ngân hàng ở Việt Nam đã đóng góp rất nhiều cho sự
phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Bên cạnh những thành quả đạt được,
nhiều thử thách mới đã xuất hiện buộc Chính phủ phải quan tâm đến việc nâng
cao chất lượng và năng lực quản trò rủi ro của công tác quản trò hoạt động ở các
ngân hàng thương mại Việt Nam, nhằm hình thành một hệ thống các ngân hàng
có sức cạnh tranh cao, năng động và hoạt động an toàn, hoàn thành tốt vai trò
của ngân hàng trong quá trình phát triển của đất nước.
Do hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại mang tính đặc thù, mặt
khác trong xu thế kinh doanh hiện đại các ngân hàng thương mại sẽ giảm dần tỷ
trọng tín dụng và tăng tỷ trọng dòch vụ, vì vậy có thể nói rủi ro ngân hàng rất đa
dạng và hầu như có mặt trong từng nghiệp vụ nếu những nghiệp vụ đó không
được quản lý theo một quy trình chặt chẽ. Vì đây là lónh vực quá rộng lớn, nên
đề tài chỉ chủ yếu tập trung vào phân tích và đánh giá 4 rủi ro chính đó là: rủi ro
tín dụng, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Từ đó tìm ra những
yếu tố, nguyên nhân gây ra rủi ro của từng loại rủi ro và giúp cho những nhà
quản trò ngân hàng hay những cán bộ có thẩm quyền của ngân hàng tìm ra những
giảp pháp thích hợp nhằm để phòng ngừa và hạn chế rủi ro sao cho hiệu quả
nhất.

Chương 1

-6-
Có thể nói khi một nền công nghiệp dòch vụ tài chính- ngân hàng ngày càng
phát triển mạnh mẽ như hiện nay, đòi hỏi ngành Ngân hàng phải có những cải
cách mạnh mẽ để nâng cao năng lực quản trò, đặc biệt là quản trò rủi ro trong
từng hoạt động dòch vụ. Xuất phát từ những thực tế đó mà tôi đã chọn đề tài:”
Một số giải pháp nâng cao năng lực quản trò rủi ro của các Ngân hàng thương
mại Việt Nam” để làm luận văn thạc só kinh tế của mình.
1.
XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Lợi nhuận và rủi ro là hai mặt của vấn đề vì muốn có lợi nhuận phải chấp
nhận rủi ro, và nếu rủi ro càng lớn thì lợi nhuận càng cao và ngược lại nếu rủi ro
thấp thì lợi nhuận thu được cũng sẽ thấp. Sự đối mặt và chòu tác động của rủi ro
có thể tác động xấu đến tất cảø các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các
doanh nghiệp ngân hàng nói riêng, thậm chí bò phá sản và bò loại ra khỏi thò
trường.
Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, làm thế nào để quản trò rủi
ro một cách hiệu quả trong một môi trường kinh doanh mới và thò trường có
nhiều biến động như hiện nay. Vấn đề này chỉ có thể giải quyết thông qua việc
nâng cao năng lực quản trò rủi ro bằng một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế
nó được đề xuất trong đề tài.
2.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu nhằm các mục tiêu sau:
- Nghiên cứu những lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại, công tác quản
trò kinh doanh ngân hàng và quản trò rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng. Đề tài nhấn mạnh vào các vấn đề liên quan đến rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ
giá, rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất đối với các ngân hàng thương mại.

Chương 1

-7-
- Phân tích và đánh giá thực trạng rủi ro của các loại rủi ro trên, đồng thời
bên cạnh đó phân tích những nguyên nhân chủ yếu gây ra các rủi ro đó và cùng
với những vướng mắc khó khăn trong việc xử lý rủi ro của các ngân hàng thương
mại Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro một cách an
toàn và hiệu quả hơn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, chỉ chấp nhận các
loại rủi ro cho phép đối với từng nghiệp vụ sau khi đã phân tích chi tiết trên tất
cả các khía cạnh luật pháp và kinh tế.
3.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa vào dữ liệu thống kê các hoạt động
của ngân hàng thương mại trong quá khứ, kết hợp sự quan sát những nguyên
nhân gây ra rủi ro. Từ đó đưa ra những giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro
trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đề tài đã sử dụng kết hợp những phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vất lòch sử.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, giải thích, so sánh để thu thập số liệu
và phân tích số liệu …
4.
ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích và đánh giá các
rủi ro trong hoạt động ngân hàng thương mại mà chủ yếu là rủi ro tín dụng, rủi ro
tỷ giá, rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất.
- Phạm vi nghiên cứu đề tài là nghiên cứu thực trạng các hoạt động kinh
doanh chủ yếu là hoạt động tín dụng và hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

Chương 1

-8-
5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Phần mở đầu : giới thiệu đề tài và trình bài những vấn đề liên quan đến
phương pháp luận nghiên cứu.
- Chương 1 : trình bày những lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại,quản
trò kinh doanh ngân hàng và và quản trò rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng.
- Chương 2 : Phân tích và đánh giá thực trạng của bốn loại rủi ro nói trên
trong hoạt động ngân hàng thương mại, các nguyên nhân gây ra rủi ro và nhận
xét các biện pháp hạn chế rủi ro đang được áp dụng hiện nay.
- Chương 3 : Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trò rủi
ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Phần kết luận
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra của đề tài là rất lớn, hơn nữa thời gian nghiên cứu
và khả năng người viết có hạn. Vì vậy, nội dung luận văn này chắc chắn không
tránh khỏi nhiều thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ dẫn của Quý Thầy Cô để
luận văn được hoàn thiện hơn.







Chương 1

-9-
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Những vấn đề chung về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại, từ khi hình thành và phát triển đến nay , đã có rất
nhiều khái niệm :
Theo Đạo luật Ngân hàng của Cộng hoà Pháp 1941 chỉ rõ :“ Ngân hàng
thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của
công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng
nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài
chính”.
Theo pháp lệnh Ngân hàng Việt Nam năm 1990 : “ Ngân hàng thương mại
là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ chủ yếu là thường xuyên nhận
tiền gửi của khách hàng ( dân cư và các doanh nghiệp), có trách nhiệm hoàn trả
và sử dụng để cho vay, thanh toán, chiết khấu …”.
Luật số 02/1997/QH10 Điều 10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam
khẳng đònh : “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Nghò đònh của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 : “ Ngân
hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và
các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế nhà nước”.

Chương 1

-10-
Như vậy, có thể nói rằng ngân hàng thương mại là một loại đònh chế tài
chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thò trường. Nhờ
hệ thống đònh chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã
hội được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng
cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
1.1.2
Chức năng của Ngân hàng Thương mại.
1.1.2.1 Chức năng làm trung gian tín dụng.
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là một tổ chức trung gian đứng ra
tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế
biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay. Như vậy, có thể nói NHTM là
nhòp cầu nối liền những chủ thể thừa vốn với các chủ thể thiếu vốn.
Với chức năng này, NHTM làm trung gian chuyển vốn tiền tệ từ nơi
thừa đến nơi thiếu, các chủ thể tham gia không có mối liên hệ trực tiếp với nhau
và điều này có vai trò to lớn đối với nền kinh tế vì một mặt huy động và tập
trung hầu hết những nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và biến nó từ chỗ là
phương tiện tích lũy thành nguồn vốn lớn cho nền kinh tế, mặt khác sử dụng
nguồn vốn này cung ứng cho nền kinh tế với tính luân chuyển của nó gấp nhiều
lần.
Chức năng trung gian tín dụng được biểu hiện qua sơ đồ sau:



- Thu nhận
tiền gửi,
tiết kiệm.
- Cho vay,
Phát hành
trái phiếu,
kỳ phiếu…


Cấp tín
dụng


NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI

)d
− Doanh
nghiệp;
− Các đònh chế
tài chính;
− Các tổ chức
phi lợi
nhuận;
)d
− Doanh
nghiệp;
− Các đònh chế
tài chính;
− Các tổ chức
phi lợi
nhuận;











Chương 1

-11-
1.1.2.2 Chức năng làm trung gian thanh toán
Vì là thủ quỹ của cá nhân và tổ chức nên hầu hết các khoản thu chi về
hàng hóa và dòch vụ của các cá nhân, tổ chức đều được thực hiện thông qua
NHTM bằng việc mở tài khoản tại NHTM và yêu cầu hay uỷ nhiệm NHTM thực
hiện các khoản chi trả cũng như thu hộ. Do đó các cá nhân và tổ chức không
phải mất nhiều thời gian và chi phí cho các công việc như đếm và kiểm tiền; vận
chuyển; lưu trữ và bảo vệ; quản lý; v.v…trong các hoạt động thanh toán, giao
dòch tiền tệ.
Chức năng làm trung gian thanh toán của NHTM ngày nay vượt qua
khỏi khuôn khổ truyền thống theo sự phát triển của kỹ thuật công nghệ hiện đại
phục vụ ngành ngân hàng chẳng hạn như thanh toán bù trừ, chữ ký điện tử, phần
mềm quản lý, hệ thống mạng công nghệ thông tin…để phục vụ nền kinh tế với
yêu cầu cao hơn về tính chính xác, nhanh chóng, an toàn và đặc biệt là giảm
thiểu chi phí giúp quá trình lưu thông vốn tiền tệ cũng như lưu thông hàng hoá
ngày càng hiệu quả.
1.1.2.3 Chức năng cung ứng các dòch vụ ngân hàng.
Ngân hàng sử dụng ưu thế về mạng lưới các chi nhánh, đối tác trong và
ngoài nước, cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin, thiết bò, phần mềm chuyên
ngành…có thể cung cấp cho khách hàng các dòch vụ đa dạng và chuyên biệt có
giá trò gia tăng cao như tư vấn tài chính, cung cấp thông tin, bảo quản vật và
chứng từ có giá, ngăn ngừa rủi ro ngoại hối…
1.1.2.4 Chức năng tạo tiền (bút tệ hay tiền ghi sổ).
Với một hệ thống ngân hàng hoàn chỉnh, với một số tiền ban đầu và tỷ
lệ dự trữ bắt buộc nhất đònh thì các NHTM có thể tạo ra một số lượng tiền ghi sổ

Chương 1

-12-
lớn hơn lượng tiền ban đầu gấp nhiều lần. Số lượng tiền tạo ra có thể được tính
thông qua hệ số tạo tiền như sau:

1
Hệ số tạo tiền =
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Khối lượng tiền tạo ra = Khối lượng tiền gửi ban đầu X Hệ số tạo tiền
Đây là chức năng tạo ra bút tệ, góp phần gia tăng lượng tiền tệ cho nền kinh tế.
1.1.3
Các loại hình ngân hàng thương mại
Tùy theo góc độ tiếp cận, NHTM có thể phân loại như sau :
 Căn cứ vào hình thức sở hữu
- Ngân hàng thương mại quốc doanh: là các ngân hàng kinh doanh
bằng vốn cấp phát của ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam hiện có các ngân hàng
thương mại quốc doanh lớn như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt
Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nhà
Đồng bằng sông Cửu Long,…
- Ngân hàng thương mại cổ phần: là những ngân hàng hoạt động như
công ty cổ phần, nguồn vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp.
- Ngân hàng thương mại liên doanh: có vốn được góp bởi một bên là
ngân hàng Việt Nam và bên còn lại là ngân hàng nước ngoài, có trụ sở đặt tại
Việt Nam và hoạt động theo luật pháp Việt Nam
- Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài: là ngân hàng được
thành lập theo vốn và luật pháp nước ngoài nhưng hoạt động theo luật Việt Nam.

Chương 1

-13-
 Căn cứ vào sản phẩm ngân hàng cung cấp cho khách hàng
- Ngân hàng bán buôn: số lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng
không nhiều nhưng giá trò từng sản phẩm là rất lớn. Khách hàng chủ yếu là các
công ty qui mô lớn, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty
- Ngân hàng bán lẻ : số lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng rất
nhiều nhưng giá trò của từng sản phẩm thường không lớn. Khách hàng chủ yếu là
cá nhân hoặc doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ.
- Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: bao gồm cả hai loại hình ngân
hàng trên và ở Việt Nam hiện nay loại hình ngân hàng này chiếm đa số.
 Căn cứ vào lónh vực hoạt động
- Ngân hàng chuyên doanh: chỉ hoạt động chuyên một trong một lónh
vực nào đó như công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, xuất nhập khẩu,… và
hầu như loại hình ngân hàng này không còn tồn tại trong một nền kinh tế phát
triển và hội nhập hiện nay mà chủ yếu là ngân hàng đa năng.
- Ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp: là loại ngân hàng hoạt
động ở mọi lónh vực kinh tế và thực hiện bất kỳ nghiệp vụ nào được phép của
ngân hàng thương mại.
1.1.4
Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
Về cơ bản, các NHTM thực hiện loại nghiệp vụ chính như nghiệp vụ
nguồn vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn, các dòch vụ ngân hàng và hoạt động kinh
doanh khác.


Chương 1

-14-
1.1.4.1 Nghiệp vụ nguồn vốn ( nghiệp vụ nợ)
Ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ này chính là dùng các biện
pháp nhằm huy động, thu hút các nguồn vốn từ khách hàng trong nền kinh tế.
Đây là nghiệp vụ quan trọng, tạo nên nguồn tài nguyên cho ngân hàng. Trên cơ
sở đó, ngân hàng sử dụng chúng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư …
¾ Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm :
• Nguồn vốn chủ sở hữu : gồm nguồn vốn tự có của ngân hàng khi
mới thành lập và nguồn vốn coi như tự có.
- Vốn tự có :
+ Vốn điều lệ ( hay vốn pháp đònh) : là nguồn vốn ban đầu khi
ngân hàng mới bắt đầu đi vào hoạt động và được ghi vào bản điều lệ hoạt động
của ngân hàng. Vốn điều lệ có thể được thay đổi theo xu hướng tăng lên trong
quá trình hoạt động của ngân hàng nhờ được cấp bổ sung hay được kết chuyển
từ quỹ bổ sung vốn điều lệ theo luật pháp mỗi nước.
+ Các quỹ của ngân hàng: được hình thành khi ngân hàng đã đi
vào hoạt động, bao gồm các quỹ trích từ lãi ròng hàng năm như: quỹ dự trữ bổ
sung vốn điều lệ, các quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển. Ngoài ra, còn có các
quỹ được hình thành bằng cách trích và tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng
như: quỹ khấu hao cơ bản, sữa chữa tài sản, dự phòng để xử lý rủi ro,…
- Vốn coi như tự có : bao gồm những khoản tiền mà ngân hàng có kế
hoạch sử dụng nhưng tạm thời chưa sử dụng gồm: lợi nhuận chưa chia, các quỹ
khác …

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét