Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

tư tưởng Hồ Chí Minh và tham nhũng.docx

không làm hoặc làm trái với công vụ mà mình phải thực hiện
và thực hiện đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại chung
cho lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân.
- Người có chức vụ, quyền hạn đã thực hiện hành vi với
động cơ vụ lợi cho bản thân mình, cho người khác hoặc một
nhóm người mà mình quan tâm.
Bản chất của tham nhũng: Tham nhũng là một hiện tượng
xã hội phản ánh các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, truyền
thống, tập quán của một dân tộc, một quốc gia. Tham nhũng
bao gồm những hành vi nguy hiểm ở mưc độ cao cho xã hội,
nhà nước và nhân dân.
1.3 Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng
chống tham nhũng
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chế độ ta là
chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng
lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu,
đến Tỉnh, đến Huyện, đến xã bất kì ở cấp nào và ngành nào-
đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Để Đảng ta
thật sự là một Đảng lãnh đạo và là đầy tớ trung thành của nhân
dân thì trước hết cán bộ, Đảng viên phải thực hành đoàn kết và
thanh khiết. Chính vì lẽ đó, trong những phẩm chất cần có của
cán bộ, Hồ Chí Minh đề cao chữ LIÊM.
LIÊM tức là luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân,
không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước và của
nhân dân. “Phải trong sạch, không tham lam, không tham địa
vị, không tham sung sướng, không tham tiền tài, không ham
người tang bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không
bao giờ hủ hóa, chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham
tiến bộ”. Người đã dẫn câu nói của Khổng Tử để răn dạy
những kẻ bất liêm rằng: Người mà không liêm không bằng súc
vật. Và trong thực thi quyền lực, ai cũng tham lợi thì nước sẽ
nguy (Mạnh Tử).
Lời dạy của Bác từ nửa thế kỷ trước về tệ quan liêu, tham
nhũng: “Tham ô, lãng phí và tệ quan liêu là kẻ thù của nhân
dân, nó là kẻ thù khá nguy hiểm vì nó không mang gươm, mang
súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công
việc của ta…”
Để thực hiện chữ Liêm, theo Hồ Chí Minh, cần có tuyên
truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống dưới,
từ dưới lên trên. Bởi lẽ, theo Người, cán bộ các cơ quan, đoàn
thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay
nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp
ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực
hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân Người nói:
“Mỗi người phải nhận ra rằng tham lam là một điều rất xấu hổ,
kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”. Vì lẽ đó, hơn ai hết,
cán bộ phải thi đua thực hành liêm khiết để làm tấn gương cho
quần chúng noi theo. Theo Người, một dân tộc biết Cần, Kiệm,
Liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một
dân tộc văn minh, tiến bộ.
Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, con thuyền cách
mạng Việt Nam đã vượt qua bao thử thách to lớn để từng bước
cập bến bờ thắng lợi. Ngày nay, sau hơn 20 năm đổi mới chúng
ta đã gặt hái được nhiều thắng lợi to lớn trên tất cả mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội: từ kinh tế đến văn hóa… Đặc biệt, con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được nhận
thức rõ hơn. Song để đi tới mục tiêu CNXH, chúng ta con phải
vượt qua rất nhiều khó khăn thử thách. Trong đó, một trong
những thử thách lớn nhất đối với chúng ta là tình trạng thoái
hóa, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ có chức, có
quyền, mà biểu hiện của nó là bất Liêm. Vì bất Liêm mà tham
ô, tham nhũng đã trở thành quốc nạn, quốc sỉ đang làm lệch
chuẩn những mục tiêu tốt đẹp của CNXH, làm băng hoại đạo
đức – phong hóa, làm cho dân không yên, đe dọa đến sự an
nguy của chế độ… Vì vậy, hơn lúc nào hết hiện nay toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân phải ra sức thực hành chữ Liêm.
Vào năm 1952, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
đang ở giai đoạn quyết liệt, vậy mà Bác vẫn phải vạch mặt một
loại kẻ thù khá nguy hiểm “nằm trong các tổ chức của ta”, đây
là một mặt trận không thể một phút buông lơi vũ khí. Khi cách
mạng đã giành thắng lợi, vấn đề càng trở nên cấp thiết, đúng
như Bác Hồ đã nói: “Có những người trong lúc đấu tranh thì
hăng hái, trung thành không sợ nguy hiểm, không sợ cực khổ,
không sợ quân địch, nghĩa là có công với cách mạng; song, đến
khi có ít nhiều quyền hạn ở trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ,
phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu không tự giác, cho nên
biến thành người có tội với cách mạng… Có những người miệng
thì nói: phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng về vật
chất, dễ dàng phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến tổ quốc, nhân
dân…”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra bản chất của tệ quan
liêu, tham nhũng, nguồn gốc nguyên nhân phát sinh, phát triển
của tham nhũng cũng như tính phức tạp của cuộc đấu tranh
phòng chống các tệ nạn này. Ngay trong quá trình đi tìm đường
cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công
khai vạch trần, lên án nạn tham nhũng trong bộ máy chính
quyền thực dân ở Việt Nam. Trong tác phẩm "Bản án chế độ
thực dân pháp " Người đã dành hẳn một chương để viết về nạn
tham nhũng trong bộ máy cai trị, trong đó vạch trần những hành
vi tham nhũng của những kẻ luôn tự xưng là "Quan phụ mẫu"
của dân. Người đã chỉ ra thói phung phí tiền của dân cho việc
tham quan, triển lãm, ăn uống, tiếp khách, giải trí mua sắm biệt
thự, xe cộ và những thủ đoạn nhằm rút tiền từ việc nhận thầu
các công trình xây dựng, làm đường, khai man để chi tiêu, sử
dụng của nhân viên nhà nước vào làm việc riêng. Chính thói
tham lam, xa hoa, vô độ của bọn cai trị đã làm cho những gánh
nặng thuế khóa trên đôi vai của người dân thuộc địa càng trĩu
xuống và buộc họ phải đấu tranh lật đổ chế độ cai trị của chủ
nghĩa đế quốc thực dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng tệ
tham ô, lãng phí vốn là căn bệnh “tứ chứng nan y” của mọi nhà
nước và bất kỳ một nhà nước nào nếu như mà các hoạt động
của bộ máy nhà không được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của
nhân dân thì khó tránh khỏi tình trạng tham ô, lãng phí, Người
đã sớm vạch ra một số hành vi tham nhũng mà công chức nhà
nước thường dễ mắc phải, đó là tham ô của công, đục khoét
của dân, lợi dung của chung ăn hối lộ, Người đã nêu lên những
lỗi lầm rất nặng nề mà các nhân viên nhà nước đã phạm phải
như: Trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo.
Người kịch liệt lên án thói cậy thế: "Cậy mình ở trong ban này
nọ ngang tàng phóng túng muốn sao làm vậy, coi khinh dư luận
không nghĩ đến dân, quên rằng dân đã bầu mình ra để làm việc
cho dân, chứ không cậy thế với dân", "Đứng về phía cán bộ mà
nói tham ô là ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân
dân, ăn bớt của bộ đội, tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của
chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình,
đơn vị mình cũng là tham ô", "Tham ô là hành động xấu xa
nhất, tội lỗi nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công,
chiếm của công làm của tư. Nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng
nước nhà, hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân,
hại đến đạo đức cách mạng của cán bộ và công nhân".
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ rất sớm chỉ ra hình dáng,
bản chất của tệ nạn tham nhũng, quan liêu, lãng phí, tính phức
tạp của cuộc đấu tranh chống lại các tệ nạn này mà Người còn
thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết với các tệ nạn đó trong
việc tổ chức chỉ đạo phòng chống tham nhũng. Người phát
động quần chúng nhân dân tiết kiệm chống lãng phí, mặt khác
Người yêu cầu mọi cán bộ nhà nước phải rèn luyện tư tưởng
đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, phải cần kiệm
liêm chính, chí công, vô tư. Người cho rằng: "những người
trong các công sở từ làng cho đến Chính phủ trung ương đều có
nhiều hoặc ít quyền hành, đều dể tìm dịp phát tài hoặc xoay tiền
của chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân. Nếu không giữ đúng
cần kiệm, liêm chính, chí công thì trở nên hủ hóa, biến thành
sâu mọt của dân”. Bên cạnh đó Người còn chỉ ra rằng: "Chống
tham ô lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp
như việc đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và
chính trị muốn chống tham ô lãng phí, quan liêu thì phải dân
chủ, phê bình và tự phê bình, làm cho mọi người biết tự phê
bình mình và giám phê bình người. Phải để cho người phụ
trách thấy, để quân chúng thấy, tham ô, lãng phí, không thể nẩy
nở được”. Vì vậy, chống tham ô, lãng phí, quan liêu tốt thì
những người cán bộ trước hết phải hiểu rằng: "Nếu chính mình
tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được.
Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta
trong sạch được. Phải thấy kẻ địch trong mình ta nó mạnh lắm.
Nó vô hình, vô ảnh, không dàn ra thành trận, luôn luôn lấn lút
trong mình ta. Nó khó thấy, khó biết, nên khó tránh. Nhưng đã
biết thì kiên quyết làm”. Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là
cách mạng nên đi đôi với giải pháp chỉ đạo cuộc đấu tranh
chống tham nhũng toàn dân, toàn diện, Người đã kiên quyết xây
dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy chống tham nhũng. Ngay sau
khi dành được chính quyền hơn 80 ngày, ngày 23/11/1946 Hồ
Chủ tịch đã ký sắc lệnh số 64 về việc thành lập Ban thanh tra
đặc biệt, sắc lệnh này quy định Ban thanh tra đặc biệt có quyền
"đình chỉ, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong UBND hay của
Chính phủ đã phạm lỗi trước khi mang ra Hội đồng chính phủ
hay tòa án đặc biệt xét xử. Tịch biên hoặc niêm phong tang vật
và dùng mọi cách điều tra để lập một hồ sơ mang một phạm
nhân ra tòa án đặc biệt". Đến ngày 18/ 01/1949, sắc lệnh số:
138/SL về tổ chức thanh tra Chính phủ đã quy định thêm chức
năng "thanh tra cả ủy ban kháng chiến hành chính và viên chức
về phương diện liêm khiết ". Ngoài việc ký sắc lệnh về tổ chức
thanh tra đặc biệt là tổ chức có tính chất chuyên trách chống
tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường phát động các cuộc
vận động có tính chất chống tham nhũng thông qua triển khai
thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các quyết định của
Chính phủ, của Quốc hội như phát động phong trào" ba xây, ba
chống" Trong các cuộc hội nghị ,các cuộc gặp mặt các cán bộ,
công chức tầng lớp nhân dân Người luôn luôn nói đến đạo
đức cách mạng, giáo dục tinh thần cần, kiệm, liêm, chính chống
lãng phí, tham ô, chống bệnh quan liêu mệnh lệnh, kéo bè, kéo
cánh
Bên cạnh các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, Người
cũng còn rất chú trọng đến việc xử lý các hành vi tham nhũng,
kiên quyết trừng trị bọn tham nhũng cho dù những kẻ đó ở vị trí
nào trong xã hội. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký bản án tử
hình đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu đã tham ô
tài sản của quân đội, ăn chơi sa đọa. Qua sự việc này, thái độ
kiên quyết đấu tranh với tệ nạn tham nhũng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đem lại hiệu quả cao trong việc giáo dục đức liêm
khiết của cán bộ cách mạng. Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí
là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” thứ giặc nguy hiểm hơn
giặc ngoại xâm. Người phê bình những người “lấy của công
dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức”. Quan điểm của
chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan lieu,
dù cố ý hay không, cũng là bạn động minh của thự dân và phong
kiến… Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”.
Ngày 27/11/1946, Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh ấn định hình phạt
tội đưa và nhận hối lộ với mức từ 5 đến 20 năm tù khổ sai và
phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối lộ. Ngày 26/1/1946, Hồ
Chí Minh kí lệnh nói rõ tội tham ô, trộm cắp của công dân là tội
tử hình.
Nhìn lại lịch sử gần 60 năm xây dựng và phát triển đất
nước, việc phòng, chống tham nhũng luôn luôn được Chủ tịch
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm nhằm giáo dục, rèn luyện phẩm
chất đạo đức cho cán bộ, công chức, xây dựng chính quyền
liêm khiết. Hiện nay sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo đã, đang làm thay đổi bộ mặt của đất nước và đời
sống của nhân dân, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên
trường quốc tế. Trong bối cảnh đó những quan điểm, tư tưởng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng chống tham
nhũng vẫn giữ nguyên giá trị thời sự. Vì vậy, trong cuộc quyết
chiến với quốc nạn tham nhũng hiện nay, chúng ta cần thực
hiện nghiêm chỉnh việc lấy "Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim
chỉ nam cho hành động" bằng việc tiếp thu, vận dụng một cách
nhuần nhuyễn và sáng tạo những tư tưởng đó trên cơ sở phù
hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống tham nhũng ở nước ta
hiện nay. Thực hiện tốt những lời dạy của Người về vấn đề này
chính là góp phần thiết thực làm trong sạch và nâng cao hiệu
lực hiệu quả của bộ máy nhà nước, đẩy mạnh công cuộc cải
cách hành chính và sự nghiệp đổi mới đất nước trong giai đoạn
hiện nay.
2. Vấn đề tham nhũng ở Việt Nam
2.1 Thực trạng
Người xưa thường nói: "Tri nan hành dị" - biết khó làm dễ.
Do không khắc phục được chủ nghĩa cá nhân, nhiều cán bộ
đảng viên vẫn sa vào tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Những tệ
nạn này đã trở nên đặc biệt nghiêm trọng khi nền kinh tế nước
ta đang ở thời kỳ chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung bao
cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi
nước ta bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng hợp
tác đa phương đa dạng với tất cả các nước, các khu vực, các tổ
chức quốc tế. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống, đặc biệt là tệ
tham nhũng, lãng phí ngày càng phát triển phổ biến trong một
bộ phận không ít cán bộ, đảng viên ở các cấp, các ngành, đã trở
thành nguy cơ đối với sự tồn vong của Đảng, đến vận mệnh của
chế độ XHCN. Điều này đã được nhấn mạnh trong nhiều nghị
quyết của Đảng.
Mặc dù Đảng ta luôn ra sức kêu gọi trừng trị nghiêm khắc
những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, loại tội phạm này
vẫn cứ tồn tại, gia tăng về lượng và tinh vi, xảo quyệt hơn về
thủ đoạn. Thống kê của TAND thành phố, từ năm 2001 đến
2006, đã có 131 vụ án tham nhũng đưa ra xét xử. Trong đó, tội
phạm ở lĩnh vực kinh tế quốc doanh, cổ phần chiếm trên 50%;
lĩnh vực hành chính, địa ốc, xây dựng chiếm 40%, còn lại thuộc
vào tư pháp. Ngoài ra, còn một số vụ xuất phát từ hành vi sách
nhiễu, cửa quyền của một bộ phận cán bộ. Một thẩm phán có
nhiều lần ngồi xử án tham nhũng cho biết, việc điều tra, truy tố
và xét xử các loại tội phạm liên quan đến tham nhũng hết sức
phức tạp. Đối tượng thực hiện tội phạm này thường là người có
địa vị xã hội, có học thức cũng như hiểu biết về quản lý. Do
vậy, họ có kinh nghiệm, thủ đoạn đối phó với việc phát hiện tội
phạm; việc thu thập, đánh giá chứng cứ. Ngoài ra còn có các
mối quan hệ khác của quan tham tác động vào quá trình điều
tra, truy tố, xét xử càng làm cho việc chống tham nhũng càng
khó khăn.
Có thể nói ở đâu có công quyền ở đó đều có nguy cơ cướp
bóc và tham nhũng. Công quyền tuyệt đối thì đẻ ra cướp bóc.
Công quyền tương đối thì dẫn đến tham nhũng. Ngày xưa, vua
chúa không cần tham nhũng: Họ chỉ đơn giản cướp tài sản của
cả nước làm của riêng. Chỉ có quan lại mới tham nhũng. Động
cơ chính của cả cướp bóc lẫn tham nhũng đều là lòng tham.
Nhưng vấn đề không phải là diệt trừ lòng tham. Đó chỉ là lý
tưởng của các tôn giáo. Về phương diện chính trị, lý tưởng ấy
chỉ là ảo tưởng. Bởi vậy, nhân loại luôn tìm cách chống lại cả
cướp bóc lẫn tham nhũng bằng luật pháp.Tham nhũng thường
gắn với ít nhất ba yếu tố: một, có quyền; hai, quyền ấy ít nhiều
bị hạn chế; và ba, vì sự hạn chế ấy, việc cướp bóc phải được
nguỵ trang dưới hình thức vơ vét lén lút, thường được gọi là
tham nhũng. Điểm khác biệt giữa các quan tham ngày xưa và
các quan tham bây giờ chỉ nằm ở chỗ: yếu tố hạn chế quyền lực
của các quan tham ngày xưa là vua chúa; của các quan tham
ngày nay là pháp luật.
Nói như vậy để thấy, để ngăn chận tham nhũng, pháp luật
không, không đủ. Thậm chí có khi luật pháp còn tạo cơ hội cho
bọn tham nhũng dễ hoành hành. Chứ không phải sao? Luật
pháp có hai chức năng chính: hạn chế quyền lực và quy định
trách nhiệm. Trong rất nhiều trường hợp, ở các quốc gia toàn
trị, luật pháp không đủ để hạn chế quyền lực; nó chỉ còn chức

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét