Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu ví dụ minh họa.doc

Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Thích - Lớp QTKD 32
- Xí nghiệp khai thác chế biến khoáng sản
+ Phân xưởng khai thác quặng (3)
+ Nhà máy tuyển luyện kim.
2.2.Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận
2.2.1. Hội đồng thành viên
Hội đồng thành viên là cơ quan cao nhất của Công ty. Hội đồng thành
viên có quyền hạn và nhiệm vụ:
- Quyết định phương hướng phát triển Công ty
- Quyết dịnh tăng hoặc giảm vốn điều lệ
- Quyết dịnh cơ cấu tổ chức quản lý của công ty.
- Thông qua báo cáo tài chính hàng năm, phương án sử dụng và phân phối lợi
nhuận hoặc phương án xử lý lỗ của Công ty,…
2.2.2. Giám đốc công ty
Là người đại diện Công ty trước pháp luật, điều hành và quyết định mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước
Hội đồng thành viên về viêc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
2.2.3. Các phòng chức năng của Công ty
2.2.3.1. Phòng Tổ chức hành chính
- Làm công tác tổ chức cán bộ và tổ chức sản xuất của công ty.
- Làm công tác hành chính của công ty như tiếp khách, công văn, giấy tờ,
đánh máy vi tính, photocopy tài liệu và tổ chức sinh hoạt vật chất và tinh
thần cho CBCNV Công ty.
2.2.3.2. Phòng Kế hoạch kỹ thuật vật tư
- Đảm nhiệm công tác kế hoạch của DN và chỉ đạo giám sát về kỹ thuật đối
với toàn bộ các công trình do công ty thi công.
- Tổ chức công tác cung ứng vật tư đáp ứng yêu cầu tiến độ thi công công
trình.
Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Thích - Lớp QTKD 32
- Tổ chức nghiệm thu bàn giao các công trình do Công ty thi công.
- Tổ chức nghiệm thu bàn giao các công trình đã hoành thành và lập báo cáo
quyết toán đối với các công trình đã nghiệm thu bàn giao.
2.2.3.3. Phòng Tài chính kế toán
- Thực hiện các hoạt động tài chính của Công ty.
- Tổ chức công tác kế toán thống kê và tổ chức bộ máy kế toán của Công ty
thực hiện theo luật kế toán của Nhà nước.
2.2.4. Các bộ phận phục vụ sản xuất kinh doanh và các đội sản xuất
2.2.4.1. Đội xe số 1 của công ty
- Điều động và bố trí sắp xếp các loại xe, máy thi công cho các Công trường
và phục vụ thi công các công trình.
- Tổ chức gìn giữ bảo quản, sửa chữa và bảo dưỡng định kỳ các loại xe, máy
thi công, đảm bảo cho xe và máy thi công có thể hoạt động được thường
xuyên.
2.2.4.2. Các đội thi công
- Công ty có các đội thi công cầu đường, thuỷ lợi, xây dựng dân dụng và xây
dựng các công trình điện đến 35 KV.
- Mỗi đội thi công có nhiệm vụ thi công các công trình cầu đường, thuỷ lợi
hoặc xây dựng (dân dụng, điện) theo kế hoạch được giao.
2.2.4.3. Phân xưởng sản xuất
Phân xưởng Mộc-Hàn có chức năng sản xuất các bộ phận sản phẩm,
chi tiết phục vụ thi công các công trình. Phân xưởng có nhiệm vụ sản xuất
các loại cửa gỗ, cửa sắt, hoa sắt và các bán thành phẩm gỗ, sắt khác để phục
vụ thi công các công trình dân dụng cầu đường và thuỷ lợi.
2.2.4.4. Đội thăm dò và khai thác mỏ tại mỏ Chì kẽm Ao Xanh - Bắc Quang
Sau thời gian làm nhiệm vụ phổ tra địa chất tại điểm mỏ Chì kẽm Ao
Xanh – Bắc Quang đạt kết quả, UBND tỉnh Hà Giang đã ra QĐ số
Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Thích - Lớp QTKD 32
2237/QĐUB ngày 25/8/2003 cho phép Công ty khai thác tận thu khoáng sản
chì kẽm tại mỏ Chì kẽm Ao Xanh - Bắc Quang.
Hiện nay Công ty đang chuẩn bị thành lập Xí nghiệp Khai thác và Chế
biến khoáng sản tại Ao Xanh - Bắc Quang với chức năng khai thác và chế
biến khoáng sản tại mỏ chì kẽm Ao Xanh – Bắc Quang.
2.2.5. Chi nhánh Công ty TNHH Giang Sơn tại tỉnh Lai châu
Hiện nay, Công ty TNHH Giang Sơn có 1 chi nhánh đang hoạt động tại
tỉnh Lai Châu với chức năng, nhiệm vụ như chức năng, nhiệm vụ của Công
ty.
Chi nhánh có Giám đốc chi nhánh và bộ phận kỹ thuật, bộ phận kế toán
giúp việc.
Chi nhánh có một đội xe máy (số 2) và các đội thi công cầu đường và
xây dựng dân dụng.
3. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
3.1. Các kết quả sản xuất kinh doanh
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Tỉnh Đảng Bộ, với chủ trương phát triển
sản xuất kinh doanh đúng đắn của Hội đồng thành viên Công ty cộng với tinh
thần hăng say lao động của CBCNV Công ty, trong 4 năm gần đây Công ty
đã đạt được một số thành quả trong sản xuất kinh doanh theo bảng dưới đây:
Qua bảng 2 có thể thấy kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty là tốt,
phát triển và tăng trưởng theo chiều hướng đi lên.
Trong suốt giai đoạn 2000-2003 Công ty đã có doanh thu liên tục tăng,
năm sau cao hơn năm trước và đặc biệt tốc độ tăng ngày càng tăng. Đây là
một kết quả tốt, rất đáng khích lệ.
Tuy nhiên, lợi nhuận của Công ty lại không tăng đều mà không ổn định:
lúc tăng, lúc giảm. Đây chính là lí do làm cho các chỉ tiêu doanh lợi doanh
thu bán hàng và doanh lợi vốn kinh doanh cũng không ổn định.
Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Thích - Lớp QTKD 32
Doanh thu, lợi nhuận tăng và thu nhập bình quân của người lao động
được nâng cao hơn, các khoản nộp Ngân sách cũng được tăng lên và các
khoản đóng góp cho xã hội của doanh nghiệp cũng được cao hơn.
Bảng 2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
thời kì 2000-2003
Chỉ Đơn
vị
2000 2001 2002 2003
tiêu tính Số
tuyệt
đối
So
với
200
0
Số
tuyệt
đối
So
với
200
1
Số
tuyệt
đối
So
với
200
2
Doanh thu Triệu 10.200 10.361 1,01 12.660 1,22 30.385 2,5
Chi phí Triệu 9.588 9.714 1,01 11 90
0
1,22 12.100 1,01
Lợi nhuận Triệu 612 622 1,01 760 1,22 508 0,67
Vốn Triệu 14.590 22.135 1,51 30.934 1,39 26.532 0,86
Lao động bình
quân
Ngư
ời
200 250 1,25 350 1,20 355 1,01
Thu nhập
BQ/tháng
Đ/ng 600.00
0
660.00
0
1,1 700.00
0
1,06 850.00
0
1,21
Doanh lợi vốn KD % 4,195 2,810 2,500 1,915
Doanh lợi doanh
thu
% 6,000 6,004 6,003 1,672
Thuế nộp NS Triệu 320 350 1,09 411 1,17 826 2,01
Đóng góp XH Triệu 45 48 1,06 55 1,14 50 0,91
Riêng về sử dụng vốn, năm 2001 và 2002 tỉ lệ tăng cao hơn so với tỉ lệ
tăng của doanh thu là vì Công ty phải đầu tư mua sắm máy móc thiết bị cho
Chi nhánh Công ty tại Lai Châu và cho công việc khai thác mỏ tại Bắc
Quang. Trong khi đó, tháng 9/2003 Công trình tỉnh lộ 132 Lai Châu mới bắt
đầu khởi công và mỏ Chì Kẽm Ao Xanh – Bắc Quang mới tổ chức khai thác.
Mặc dù vậy, năm 2003 thì tỉ lệ tăng của doanh thu cao hơn rất nhiều tỉ lệ tăng
Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Thích - Lớp QTKD 32
của vốn là do quá trình khai thác mỏ đã đi vào hoạt động và đã có sản phẩm
bán ra thị trường với số lượng lớn.
Từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Giang
Sơn trong những năm gần đây cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty
chưa thực sự đạt hiệu quả cao, cơ cấu vốn và tài sản chưa hợp lý. Trong thời
gian tới, để đạt được lợi nhuận cao và giảm thiểu rủi ro cần phải chuyển dịch
cơ cấu vốn và tìa sản nhằm đảm bảo cho một sự phát triển bền vững với hiệu
quả ngày càng cao.
3.2. Các kết quả trong hoạt động quản trị
3.2.1. Định hướng chiến lược và kế hoạch của Công ty
Để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được lâu dài bền
vững và luôn ổn định, Công ty đặc biệt quan tâm tới việc mở rộng và phát
triển hai trong số bốn ngành nghề mà Công ty đã đăng ký kinh doanh là:
- Xây dựng dân dụng, xây dựng giao thông cầu đường, xây dựng thuỷ lợi và
xây dựng đường điện đến 35 KV.
- Khảo sát, thăm dò, khai thác chế biến và mua bán khoán sản.
3.2.1.1. Về ngành nghề xây dựng dân dụng, giao thông cầu đường, thuỷ lợi và
đường điện 35 KV
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang, công tác xây dựng cơ sở hạ tầng đã
gần đến mức bão hoà, do vậy Công ty tiếp tục thi công các công trình đang
dở dang và tham gia đấu thầu các công trình XDCB mới ở mức độ cho phép.
Bên cạnh đó, Công ty triển khai ngành nghề XDCB trên sang một số
tỉnh bạn.
Năm 2004 – sau khi Quốc hội có quyết định tách tỉnh Lai Châu thành
hai tỉnh: Lai Châu và Điện Biên, Công ty sẽ đặt một chi nhánh Công ty tại
tỉnh Điện Biên và một văn phòng đại diện tại tỉnh Lai Châu.
Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Thích - Lớp QTKD 32
Năm 2005 – Công ty sẽ tổ chức thành lập một Chi nhánh của Công ty tại
tỉnh Cao Bằng.
3.2.1.2. Ngành nghề khảo sát thăm dò, khai thác chế biến và mua bán khoáng
sản
Năm 2004 – Công ty thành lập Xí nghiệp khai thác và chế biến khoáng
sản tại mỏ Chì kẽm Ao Xanh - Bắc Quang từ đội thăm dò và khai thác mỏ
hiện nay.
Xí nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản là đơn vị trực thuộc Công ty
bao gồm Phân xưởng Khai thác quặng Chì, Kẽm và một nhà máy Tuyển
luyện kim. Về lâu dài, nếu khảo sát thấy mỏ Chì Kẽm Ao Xanh có trữ lượng
lớn, phải khai thác nhiều năm, Công ty sẽ chuyển Xí nghiệp khai thác chế
biến khoáng sản thành Công ty khai thác chế biến khoáng sản hạch toán kinh
tế độc lập.
Bên cạnh đó, Công ty sẽ tổ chức thăm dò khảo sát các điểm mỏ tại Mèo
Vạc. Sau khi khảo sát thăm dò đạt kết quả, Công ty sẽ thành lập các phân
xưởng khai thác mỏ trực thuộc Xí nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản
hoặc Công ty khai thác và chế biến khoáng sản.
Ngoài ra, trên địa bàn hoạt động của các Chi nhánh và Văn phòng đại
diện của Công ty tại các tỉnh bạn, nếu điều kiện cho phép và sau khi khảo sát
thăm dò mỏ có kết quả, các chi nhánh Công ty sẽ triển khai thêm ngành nghề
khai thác chế biến và mua bán khoáng sản tại các tỉnh đang hoạt động.
3.2.2. Xây dựng và phát triển lực lượng lao động của Công ty
Lao động của con người là nhân tố quyết định trong mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty.
Xuất phát từ đó, Công ty đã xây dựng bồi dưỡng và tuyển chọn một đội
ngũ lao động có trình độ kỹ thuật và nghiệp vụ vững, có tay nghề cao, có sức
Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Thích - Lớp QTKD 32
khoẻ tốt để thực hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty,
Hiện nay, Công ty có 17 cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ trong đó 7 là đại học,
10 trung học.
Công ty có một đội ngũ lái xe và vận hành máy thi công gồm 24 người
đều có bằng lái xe và vận hành máy thi công.
Số công nhân lao động trực tiếp có tay nghề cao (từ bậc 3 – 6) chiếm tỉ
lệ trên 40% tổng số lao động, số lao động nữ chiếm tỉ lệ 23%.
Công ty hết sức quan tâm tới đời sống vật chất và tinh thần của lực
lượng lao động đồng thời có sự phân công nhiệm vụ cụ thể do người lao động
nhiệt tình và hăng say hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đội ngũ lao
động có trình độ nghiệp vụ vững và lực lượng lao động trực tiếp có tay nghề
cao là nhân tố trọng yếu trong mọi thành quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
3.2.3. Quản trị chất lượng sản phẩm
Xây dựng cơ bản là một ngành nghề đặc thù do vậy việc quản lý chất
lượng sản phẩm chủ yếu phải tuân thủ nghiêm các quy định, nghị định của
Nhà nước.
Chất lượng sản phẩm xây dung cơ bản lệ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố:
- Số lượng và chất lượng vật liệu kết cấu nên thực thể sản phẩm
- Kỹ thuật xây dựng.
Để chất lượng sản phẩm đảm bảo tốt, trước hết Công ty quy định cho
các cán bộ kỹ thuật và các đội thi công công trình phải sử dụng đúng số
lượng và chất lượng vật liệu theo thiết kế và dự toán được duyệt cho các công
trình, không được bớt xén vật liệu hoặc thay đổi chất lượng, kích cỡ của vật
Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Thích - Lớp QTKD 32
liệu như dùng Ciment địa phương thay Ciment TW hoặc dùng sắt φ 6 (âm)
thay cho Fe φ …
Mặt khác Công ty cần chỉ đạo các cán bộ kỹ thuật phải thường xuyên
kiểm tra các đội sản xuất về kỹ thuật xây dựng trong quá trình thi công nhất
là kiểm tra phần đặt sắt.
Do vậy chất lượng sản phẩm xây dung cơ bản của Công ty luôn đảm
bảo, được khách hàng hài lòng và tín nhiệm khi nhận bàn giao, nghiệm thu
công trình.
3.2.4. Quản trị sản xuất
Để công tác xây dựng các công trình không bị gián đoạn, Công ty chỉ
đạo phòng Kế hoạch lên phương án thi công của từng công trình trong năm,
thời gian khởi công và thời gian hoàn thành.
Căn cứ vào phương án tổng thể, Công ty tổ chức ký kết hợp đồng với
các đội sản xuất – phòng Kế hoạch căn cứ vào tiến độ thi công của từng công
trình để tổ chức việc cung ứng vất liệu xây dựng kịp thời cho từng công trình.
Do công tác tổ chức cung ứng vật tư được nhạy bén kịp thời nên công
tác xây dựng không bị gián đoạn vì thiếu vật liệu và tiến độ thi công của từng
công trình được đảm bảo theo thưòi gian quy định.
3.2.5. Quản trị kỹ thuật và công nghệ
Trong công tác XDCB, công tác quản trị kỹ thuật có tầm quan trọng đặc
biệt đòi hỏi phải rất chặt chẽ và nghiêm ngặt vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng sản phẩm và mỹ thuật của công trình, đôi khi do công tác quản trị
kỹ thuật không tốt, có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không lường
như sập cầu, sập nhà,…
Do vậy, Công ty đã chỉ đạo các cán bộ kỹ thuật phải nghiêm ngặt kiểm
tra và giám sát kỹ thuật xây dựng trong quá trình thi công, nhất là kỹ thuật bê
Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Thích - Lớp QTKD 32
tông cốt thép, thi công phải theo đúng hồ sơ thiết kế kỹ thuật và tuân thủ các
qui trình qui phạm về xây dựng của Nhà nước.
Về công tác quản trị công nghệ, Công ty đã chỉ đạo các đội xe máy phải
bảo quản, giữ gìn xe máy và thực hiện tốt việc bảo dưỡng xe máy theo định
kỹ để xe, máy thi công hoạt động được thường xuyên không bị gián đoạn.
3.2.6. Quản trị vật tư
Vật tư là một yếu tố trọng yếu trong giá thành công trình XDCB. Nó
chiếm tỉ trọng khá cao trong giá thành sản phẩm do đó nếu tổ chức quản lý
tốt vật tư thì sẽ có tác dụng trực tiếp đến việc làm hạ giá thành sản phẩm.
Do vậy, Công ty rất quan tâm tới công tác tổ chức quản lý vật tư, Công
ty chỉ đạo bộ phận vật tư của Công ty mua các loại vật tư cần thiết cho công
trình theo đúng số lượng về qui cách của từng loại và tổ chức công tác vận
chuyển vật tư trực tiếp đến từng công trình hoặc về kho doanh nghiệp. Công
ty kiểm soát vật tư như sau:
- Trường hợp nhập xuất kho vật tư tại doanh nghiệp thủ kho phải cân đong đo
đếm và có phiếu nhập và xuất kho – kho có thẻ kho theo dõi về lượng,
phòng kế toán có sổ chi tiết vật liệu theo dõi cả lượng và tiền.
- Đối với từng công trình, đội trưởng cũng phải mở sổ theo dõi việc nhập và
xuất vật liệu cho công trình đó.
- Vật tư tại kho Công ty được bảo quản cẩn thận nên không xảy ra tình trạng
mất mát thiếu hụt hoặc vật tư bị hỏng.
- Cung ứng vật liệu xây dựng cho các công trình, Công ty đều dựa trên cơ sở
dự toán và thiết kế được duyệt.
- Đối với nhiên liệu (xăng, dầu…) cấp cho từng loại xe, máy thi công, Công
ty xác định mức tiêu hao cho từng loại xe và máy thi công để theo dõi và
quản lý việc sử dụng nhiên liệu của từng loại xe, máy thi công.
Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Thích - Lớp QTKD 32
Do tổ chức công tác quản lý vật tư chặt chẽ nên mức tiêu hao nhiên liệu
cho từng loại xe, máy thi công và mức sử dụng vật liệu xây dựng cho từng
công trình được hợp lý, kho vật tư được bảo quản chu đáo, không bị hư hao
mất mát cộng với công tác vận chuyển vật tư không bị lòng vòng, từ đó việc
xác định gián thành của các công trình được chính xác và hợp lý hơn.
3.2.7. Quản trị tiêu thụ
Sản phẩm sản xuất của Công ty chủ yếu trong các năm qua là sản phẩm
thuộc lĩnh vực XDCB. Do vậy việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty cũng
chính là tiêu thụ sản phẩm sản xuất XDCB. Đặc thù của việc tiêu thụ sản
phẩm xây dựng cơ bản là người chủ đầu tư (bên A) cũng chính là người tiêu
thụ sản phẩm của bên B (bên thi công).
Để việc tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi điều cốt yếu là sản phẩm bên
B sản xuất ra phải đảm bảo chất lượng và thực hiện đúng hồ sơ thiết kế kỹ
thuật được duyệt. Xuất phát từ đó, trong năm qua Công ty đã chỉ đạo phòng
KDKT và các đội sản xuất thi công các công trình phải theo đúng hồ sơ thiết
kế kỹ thuật được duyệt và đảm bảo chất lượng, lấy chất lượng là tiêu chuẩn
hàng đầu, do vậy sau khi công trình được xây dựng xong. Hội đồng nghiệm
thu đã tổ chức nghiệm thu và bàn giao được nhanh gọn và chất lượng công
trình do Công ty thi công bàn giao được bên A hài lòng và tín nhiệm.
4. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – KỸ THUẬT CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY
4.1. Ngành nghề kinh doanh
Với sự phát triển đi lên phục vụ cho nền kinh tế địa phương, Công ty
TNHH Giang Sơn đã đăng ký và mở rộng thêm các ngành nghề sản xuất kinh
doanh:
- Xây dựng dân dụng, xây dựng giao thông cầu đường, xây dựng thuỷ lợi,
xây dựng đường điện đến 35 KV.
- Khảo sát, thăm dò, khai thác chế biến và mua bán khoáng sản.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét