giảm giá hoặc là u đãi khác. Quyết định quy mô rào cản đầu vào bao gồm cả hệ
thống chính sách: thủ tục cấp giấy phép, thủ tục đăng ký chất lợng sản phẩm nhãn
mác và đó là một rào cản: chính sách thuế xuất nhập khẩu.
2.5. Các sản phẩm thay thế
Nếu các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm của ngành là sẵn có thì khách
hàng có thể chuyển sang các sản phẩm thay thế đó nếu các doanh nghiệp đang tồn
tại đặt giá cao. Vì thế mối đe doạ của các sản phẩm thay thế là một lực lợng thị tr-
ờng quan trọng tạo ra giới hạn đối với các mức giá mà các doanh nghiệp đã đặt ra.
Tầm quan trọng của mối đe doạ này phụ thuộc vào 3 yếu tố: Giá và công dụng của
các sản phẩm thay thế, chi phí chuyển đổi với khách hàng, khuynh hớng thay thế
của ngời mua, khả năng sản phẩm thay thế tăng lên cùng sự già cõi, sự lạc hậu của
sản phẩm trong khu vực (khu vực đang trong giai đoạn suy thoái) bên cạnh đó do
tiến bộ của khoa học công nghệ, suất hiện sản phẩm mới đáp ứng tốt hơn nhu cầu
và thị hiếu của khách hàng.
3. Thực tế cạnh tranh và tính hai mặt của cạnh tranh
3.1. Thực tế cạnh tranh
Môi trờng thờng xuyên biến động của thực tiễn hoạt động sản xuất kinh
doanh đã cho thấy không có một môi trờng nào ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo
hoặc hoàn toàn độc quyền, nó chỉ có ý nghĩa tơng đối vì năng lực thực tế, điều
kiện chủ quan và kể cả " cơ may" của các doanh nghiệp không thể đồng nhất. Mọi
nền kinh tế thị trờng đều có trạng thái cạnh tranh không hoàn hảo, ở đâu đó giữa
hai cực này. Cả hai loại lực lợng độc quyền và cạnh tranh kết hợp với nhau trong
việc xác định phần lớn giá cả.Vì thế càng khẳng định rõ hơn: Xác định một nền
kinh tế là có tính cạnh tranh hay độc quyền trở nên có ý nghĩa tơng đối. Tuy
nhiên cũng không phải là vì tính tơng đối và sự phức tạp của vấn đề mà không thể
phân biệt rạch ròi giữa tình trạng độc quyền và tính cạnh tranh về nguyên tắc, ngời
ta có thể coi một nền kinh tế có nhiều yếu tố cản trở sự cạnh tranh là một nền kinh
tế thiếu tính cạnh tranh và ngợc lại.
Cạnh tranh là hiện tợng gắn liền với kinh tế thị trờng, do đó cạnh tranh chỉ
xuất hiện dới những tiền đề kinh tế và pháp lý cụ thể. Ngày nay, nền kinh tế thị tr-
5
ờng đợc khẳng định là một sự phát triển tất yếu là động lực phát triển nội tại của
nền kinh tế thị trờng. Cạnh tranh cũng chỉ thực sự diễn ra khi pháp luật thừa nhận
và bảo hộ tính đa dạng của các loại hình sở hữu, khi tự do thơng mại và theo đó là
tự do kinh doanh. Cạnh tranh cũng chỉ diễn ra khi không có bất kỳ một quy định
hay hành vi nào ngăn cản sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng - những
doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập thị trờng.
Điều đó có nghĩa là cạnh tranh chỉ xuất hiện đợc khi không có độc quyền d-
ới bất cứ hình thức nào. Ngày nay nhu cầu nâng cao hơn nữa hiệu quả và sức cạnh
tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nền kinh tế đang đòi hỏi phải tạo ra
những cơ sở pháp lý cho tự do kinh tế. Có thể có nhiều định nghĩa khác nhau về
cạnh tranh, song nhìn chung, cạnh tranh đợc hiểu là sự chậy đua hay ganh đua của
các thành viên của một thị trờng hàng hoá, sản phẩm cụ thể nhằm mục đích lôi
kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng, thị trờng và thị phần của một thị
trờng. Nh vậy về phơng diện kinh tế, cạnh tranh đợc hình thành trên cơ sở của tiền
đề là: có sự hiện diện của các thành viên thơng trờng có cuộc chạy đua vì mục tiêu
kinh tế giữa các thành viên và chúng đều diễn ra trên một thị trờng hàng hoá cụ
thể. Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền và đời sống kinh tế,
ngời ta phân thị trờng thành hai hình thái: cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự
điều tiết. Cạnh tranh tự do là hiện tợng không thể có trong thế giới hiện đại vì kinh
tế thị trờng hiện đại luôn có nhu cầu đợc điều tiết và nhà nớc nào cũng có chính
sách kinh tế riêng và vì thế luôn tìm cách hớng các hoạt động kinh tế vào mục tiêu
kinh tế (vĩ mô) của mình. Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phơng thức cạnh
tranh ngời ta phân nhóm các hành vi cạnh tranh trên các hình thái thị trờng gồm
hai loại: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, vì đợc
bảo hộ bởi các nguyên tắc về quyền tự do kinh doanh, tự do thế ớc và tự do lập hội
và sự giục dã của lợi nhuân nên thực trạng của thơng trờng luôn diễn ra theo hớng
không lành mạnh.
3.2. Tính hai mặt của cạnh tranh
Cạnh tranh luôn biểu hiện ở hai mặt: mặt tích cực và tiêu cực
6
* Cạnh tranh có xu hớng thúc đẩy nền kinh tế tăng trởng mạnh mẽ, điều
chỉnh các nguồn lực phát triển của đất nớc. Thông qua quy luật cung cầu, cạnh
tranh có khả năng nhanh nhạy trong việc phát hiện và đáp ứng mọi nhu cầu và thị
hiếu của ngời tiêu dùng. Vì cạnh tranh luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút về mình
ngày càng nhiều khách hàng nên nó buộc các nhà sản xuất công nghiệp và dịch vụ
phải tạo ra những sản phẩm có chất lợng ngày càng cao với giá thành ngày càng
hạ. Vì vậy, cạnh tranh là cơ hội bắt buộc các doanh nghiệp phải áp dụng công
nghệ mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật, cạnh tranh là nguồn gốc động lực để phát
triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao. Các doanh nghiệp phải thờng xuyên cải
tiến công cụ lao động, hợp lý hoá sản xuất, nhanh chóng ứng dụng những thành
tựu khoa học kỹ thuật vào quản lý hiện đại vào trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Mặt khác vì cạnh tranh luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút về mình ngày
càng nhiều khách hàng nền nó buộc các doanh nghiệp phải sản xuất sản phẩm chất
lợng giá thành hạ. Trong kinh doanh để cạnh tranh về giá, một số doanh nghiệp
chấp nhận lời ít, bán giá thấp nhng dùng số nhiều để thu lại. Phơng thức phục vụ
và thanh toán trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tính độc đáo của sản
phẩm giữ lòng tin với khách hàng giúp cho quá trình buôn bán diễn ra nhanh
chóng, tiện lợi. Trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhà nớc với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh thì doanh nghiệp ngoài quốc doanh thờng linh hoạt hơn
so với doanh nghiệp nhà nớc.
* Trong điều kiện của cơ chế thị trờng khi mức độ cạnh tranh đã trở nên gay
gắt thì các doanh nghiệp vì sự tồn tại của mình luôn phải toán tính để vợt lên trên
các đối thủ của mình vì cạnh tranh là một quy luật trong nền kinh tế thị trờng mà
ở đó các chủ thể kinh tế tìm mọi biện pháp - cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục
tiêu kinh tế của mình. Với nghĩa đó, cạnh tranh bao hàm cả những thủ đoạn trong
hoạt động kinh doanh nh dùng tài chính để thao túng đối với doanh nghiệp có
tiềm năng tài chính lớn: bằng cách bán phá giá loại đối phơng ra khỏi cuộc chơi.
Mặt khác dù doanh nghiệp còn dùng thủ đoạn: sử dụng sự liên kết để thao túng thị
trờng, khống chế thị trờng, thu lợi nhuận độc quyền cao nh liên kết về giá nhằm
bóp chẹt ngời tiêu dùng, liên kết về vùng tiêu thụ, cùng nhau phân chia thị trờng,
7
cùng nhau giảm chất lợng hàng hoá, không cung cấp hàng hoá cho một số tổ chức
thơng mại nào đó nhằm gây áp lực về giá bán. Ngoài ra hiện tợng mắc ngoặc với
quan chức nhà nớc để lũng đoạn thị trờng, tìm kiếm những cơ hội đầu t tạo những
điều kiện "đặc biệt" thuận lợi trong sản xuất kinh doanh thông qua mua chuộc,
hối lộ các quan chức nhà nớc, lợi dụng kẽ hở luật pháp đã đợc nhiều doanh nghiệp
tiến hành. Một số thủ đoạn nữa đó là sử dụng các thủ đoạn phi kinh tế khác: đa
thông tin sai lệch về sản phẩm làm giả sản phẩm, sử dụng gián điệp kinh tế để ăn
cắp một công nghệ, chiến lợc đầu t phát triển của đối phơng, dùng bạo lực để loại
trừ đối thủ cạnh tranh dẫn đến hiện tợng " cá lớn nuốt cá bé".
II. Những nhân tố ảnh hởng đến cạnh tranh ngành
1. Tác động của môi trờng quốc tế:
Môi trờng quốc tế có ảnh hởng rất lớn đến cạnh tranh của ngành. Ngày nay
xu thế khu vực hoá và quốc tế hoá nền kinh tế thế giới là xu hớng có tính khách
quan. Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trờng theo hớng mở cửa và hội
nhập. Nền kinh tế quốc dân nớc ta trở thành một phân hệ mở cửa của hệ thống lớn
là khu vực và thế giới. Hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc
vào sự thay đổi chính trị trên thị trờng quốc tế, các quy định pháp luật của các
quốc gia, luật pháp và các thông lệ quốc tế, ảnh hởng của các yếu tố kinh tế quốc
tế. Mức độ thịnh vợng, khủng hoảng, những thay đổi trong quan hệ buôn bán quốc
tế, các yếu tố kỹ thuật công nghệ văn hoá xã hội tất cả đều ảnh hởng đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, có thể tạo cơ hội cũng nh thách
thức đối với sự tồn tại phát triển của ngành.
2. Tác động của môi trờng kinh tế quốc dân
Môi trờng kinh tế quốc dân bao gồm mọi nhân tố của nền kinh tế quốc dân
nằm ngoài môi trờng cạnh tranh nội bộ ngành tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhân tố kinh tế có vai trò quan trọng
hàng đầu và ảnh hởng có tính quyết định đến hoạt động kinh doanh của mọi doanh
nghiệp. Các nhân tố kinh tế ảnh hởng mạnh nhất đến hoạt động kinh doanh của
8
các doanh nghiệp thờng là trạng thái phát triển của nền kinh tế. Tăng trởng, ổn
định hay sinh thái. Việc tạo ra môi trờng kinh doanh lành mạnh hay không lành
mạnh hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố luật pháp và quản lý nhà nớc về kinh tế.
Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất lợng và đa vào đời sống là điều kiện đầu
tiên đảm bảo môi trờng kinh doanh bình đẳng, tạo điều kiện cho mọi doanh nghiệp
có cơ hội cạnh tranh lành mạnh cùng với hệ thống luật pháp, quản lý nhà nớc về
kinh tế là nhân tố tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của từng doanh
nghiệp. Các chính sách đầu t, chính sách phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu sẽ
tạo ra sự u tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành, tác động trực tiếp đến
kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thuộc ngành kinh tế nhất định.
Trình độ kỹ thuật công nghệ, nhân tố văn hoá xã hội, nhân tố tự nhiên ảnh hởng
rất lớn, đòi hỏi phải nghiên cứu, ứng dụng phù hợp nhất.
3. Tác động của môi trờng bên trong doanh nghiệp
* Thứ nhất phải đề cập đến chất lợng của hoạt động Marketing nhằm xác
định cầu của khách hàng, thị hiếu của khách hàng để trên cơ sở đó hoạch định các
chính sách về sản phẩm, giá cả, các chính sách phân phối cũng nh các chính sách
kích thích tiêu thụ. Chất lợng hoạt động Marketing của doanh nghiệp càng cao,
phạm vi càng rộng thì càng góp phần giúp cho doanh nghiệp có lợi thế hơn trong
cạnh tranh.
* Thứ hai đó là khả năng sản xuất nghiên cứu và phát triển khả năng này
thể hiện ở việc doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm chất lợng cao hơn, giá
thành thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Khả năng nghiên cứu và phát triển
của doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, nó có thể giúp cho doanh nghiệp vẫn
giữ đợc vị trí hàng đầu trong khu vực cạnh tranh hoặc có thể làm cho doanh
nghiệp tụt hậu trong khu vực.
* Thứ ba đó là nguồn nhân lực: là năng lực trình độ cán bộ quản lý, trình độ
tay nghề đạo đức của ngời lao động, giá trị của các mối quan hệ lao động trong
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
* Thứ t là tình hình tài chính: điều kiện tài chính thờng đợc xem là phơng
pháp đánh giá vị trí cạnh tranh tốt nhất của doanh nghiệp so với các đối thủ và
9
điều kiện tài chính của doanh nghiệp thờng đợc đánh giá thông qua các chỉ tiêu
nh khả năng thanh toán của doanh nghiệp, cán nợ, vốn luân chuyển, lợng tiền mặt,
tỷ suất lợi nhuận
* Thứ năm là cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp : quản trị doanh nghiệp tác
động mạnh mẽ đến hoạt động lao động sáng tạo của đội ngũ lao động, đến sự đảm
bảo cân bằng giữa doanh nghiệp với môi trờng bên ngoài cũng nh cân đối có hiệu
quả các bộ phận bên trong doanh nghiệp, quan hệ nhân quả giữa hai hoạt động này
ảnh hởng đến hiệu quả cơ cấu tổ chức thông qua các chỉ tiêu tốc độ giao thiết bị,
tính kịp thời, độ chính xác của các quyết định.
10
Phần nội dung
I. Thực trạng ngành dệt may Việt Nam - những thuận lợi và khó khăn
khi xuất khẩu vào thị trờng Mỹ
1. Thực trạng ngành dệt may Việt Nam
Trong điều kiện mở cửa, hội nhập của nớc ta hiện nay, là thành viên của
ASEAN, APEC và đã ký kết hiệp định thơng mại Việt - Mỹ, sẽ trở thành thành
viên chính thức của WTO trong tơng lai, ngành dệt may Việt Nam đón nhận nhiều
cơ hội, tính đến năm 2000 năng lực sản xuất của toàn ngành là 162000 tấn sợi,
800 triệu mét vải, 39 triệu sản phẩm dệt kim, 400 triệu sản phẩm may và các loại
hàng dệt, may khác. Giá trị hàng dệt, may xuất khẩu năm 1999 đạt 1747 tỷ USD.
Sự khởi sắc này bắt đầu t năm 1993; từ vị trí cuối của những mặt hàng xuất khẩu
năm 1990 thì đến năm 1996, 1997 vơn lên vị trí số 1 trong danh sách các mặt hàng
xuất khẩu của Việt Nam và năm 1998 đã lùi xuống vị trí thứ hai nhờng cho mặt
hàng dầu thô. Xuất khẩu dệt may có ý nghĩa quan trọng nh giải quyết việc làm,
phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay, vì vậy dệt may Việt
Nam là mặt hàng xuất khẩu chiến lợc của Việt Nam.
Hiện nay, mặt hàng dệt may chiếm tỷ trọng từ 20 - 25% trong cơ cấu các
mặt hàng xuất khẩu nói chung. Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt hơn 2
tỷ USD. Nhiều doanh nghiệp dệt may của Việt Nam đã xây dựng đợc thơng hiệu
trong nớc, uy tín ở nớc ngoài nh công ty may Nhà Bè, Công ty may Thắng Lợi,
Công ty Dệt Kim Hà Nội, Công ty May Mời. Các sản phẩm nổi tiếng này đã đợc
tiêu dùng ở Châu Âu, Châu á, Châu úc, đạt đợc những kết quả này là cả sự thay
đổi, đầu t mạnh dạn của nhiều doanh nghiệp cũng nh sự điều tiết của nhà nớc. Nh-
ng xét trên bình diện chung ngành may mặc có sự khởi sắc hơn ngành dệt và cũng
nhiều doanh nghiệp đã không thể đứng vững đợc trên thơng trờng. Có thể thấy
thực trạng đó qua thực tiễn sau:
11
Trớc hết phải kể đến ngành dệt của nớc ta trong những năm của thập kỷ 90,
ngành dệt hay dệt may có tốc độ phát triển không ổn định, tốc độ tăng trởng đạt
13% năm 1994, 12% năm 1995 và lại tăng lên 14% vào năm 1997. Tốc độ phát
triển không đều nói trên một phần là do sự yếu kém của ngành dệt trong việc
chiếm lĩnh thị trờng trong nớc của các sản phẩm dệt Việt Nam so với sản phẩm dệt
Ngoại, phần khác là do thiếu nguồn vốn nhập trang thiết bị và nguyên liệu vào
năm 1995 - 1996. Tỷ trọng giá trị tổng sản phẩm hàng dệt trong GDP có xu hớng
giảm dần, chiếm gần 4% GDP năm 1993 xuống còn gần 2% GDP năm 1998. Và
ngay trong ngành dệt may cũng phản ánh xu hớng này, mặc dù dệt vẫn chiếm tỷ
trọng cao trong ngành dệt - may nhng tỷ trọng của ngành dệt đã giảm đi rất nhiều,
từ gần 80% năm 1993 xuống còn hơn 6% năm 1998
Thực trạng công nghệ, trang thiết bị của ngành dệt rất khác nhau tuỳ thuộc
vào lĩnh vực khác nhau của ngành nh kéo sợi, dệt thoi, dệt kim, nhuộm, in và hoàn
tất. Mặc dù ngành đã có nỗ lực đầu t đổi mới trang thiết bị, xong nhìn chung toàn
ngành, công nghệ, trang thiết bị vẫn ở trong tình trạng lạc hậu so với các nớc trong
khu vực.
- Đối với lĩnh vực dệt kim: Công nghệ dệt kim của ngành khá hiện đại so với
các công nghệ khác. Phần lớn các máy dệt kim nhập của Trung Quốc, Tiệp và
Đông Đức từ trớc năm 1986 đều đã thanh lý và chuyển nhợng cho địa phơng. Hiện
nay các doanh nghiệp dệt lớn của Nhà nớc đều sử dụng máy dệt kim nhập của các
nớc nh Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Đức từ sau năm 1996; 30% số máy này
thuộc thế hệ mới, một số máy đã đợc vi tính hoá. Vi chất lợng sợi bông kém nên
hầu hết các doanh nghiệp chọn phơng án sản xuất sử dụng sợi Pc/Co để sản xuất
những sản phẩm đơn giản nh vải màn, vải valies, cha quan tâm đến sản xuất các
loại vải cao cấp nh vải trang trí, vải thảm, vải dùng trong xây dựng.
- Đối với lĩnh vực nhuộm, in và hoàn tất: Tất cả các thiết bị in, nhuộm và
hoàn tất là nhập từ nớc ngoài. Hiện nay 35% thiết bị in và nhuộm trong ngành
nhập từ năm 1986 trở lại đây (khoảng 300 máy). Tất cả các thiết bị này đều thuộc
thế hệ A2, A3 và vẫn hoạt động tốt. Số còn lại nhập từ trớc năm 1985, thậm chí có
những máy nhập từ những năm 60. Theo chủ trơng của VINATEX những máy này
12
cần phải giải quyết dần. Năm 1997, công suất sử dụng máy móc, thiết bị của
ngành là 75%. Năm 1998, tình hình còn xấu đi nhiều do tác động của khủng
hoảng tài chính khu vực.
Tình trạng công nghệ lạc hậu đã làm cho ngành dệt không có khả năng đáp
ứng yêu cầu về chất lợng của nguyên liệu đào vào cho ngành may, ngành may
phải phụ thụoc nhiều vào nhập khẩu, và nh vậy đất nớc mất đi nhiều cơ hội cho
sản xuất thay thế nhập khẩu trong các khâu sử dụng khá nhiều lao động của ngành
dệt. Vì ngành dệt năng lực sản xuất nhỏ không đáp ứng đủ cho nhu cầu dệt may cả
nớc nên ngành may phải nhâpj vải từ nớc ngoài. Vải sản xuất trong nớc tiêu thụ
chậm, sức cạnh tranh kém cả về chất lợng, mẫu mã, giá cả so với vải nhập ngoại
nhất là vải nhập từ Trung Quốc. Ngành may mặc dù đã có sự chuyển đổi nh đầu t
công nghệ, thay đổi thiết bị dệt thoi, dệt kim, dây chuyền nhuộm, xử lý vải khổ
nhng vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu thực tế. Sản phẩm may mặc kỹ thuật cao đáp
ứng cha nhiều, trình độ ngời lao động còn non nớt, yếu kém, hệ thống quản lý chất
lợng ngành dệt may hiện nay đã bắt đầu đợc chú trọng từ phía các doanh nghiệp.
Thị trờng các sản phẩm trong nớc có tính cạnh tranh cao đặc biệt đối với đối
thủ mạnh hơn trong khu vực. Là thành viên của ASEAN và đang trong quá trình
thực hiện AFTA, thị trờng Việt Nam là sân chơi của các nớc trong khu vực. Do
vậy chiếm lĩnh thị trờng nội địa là một thách thức rất lớn đối với các nhà sản xuất
dệt Việt Nam. Theo thống kê của VINATEX, trong những năm vừa qua tỷ trọng
tiêu thụ nội địa trong tổng số hàng dệt sản xuất trong nớc chỉ chiếm khoảng 55%.
Điều này chứng tỏ hàng dệt Việt Nam cha đáp ứng đợc nhu cầu trong nớc cả về
chất lợng và số lợng.
Thị trờng xuất nhập khẩu là thị trờng cạnh tranh quyết liệt hơn. Từ khi Việt
Nam thực hiện quá tình đổi mới, giá trị xuất khẩu hàng dệt may có tăng lên, cũng
nh ngành may, ngành dệt đã chuyển từ thị trờng Liên Xô cũ và Đông âu sang thị
trờng phơng Tây và Châu á. Thị trờng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam bao gồm
thị trờng có quota và phi quota. Thị trờng EU là thị trờng xuất khẩu có quota. Dệt
may Việt Nam bắt đầu xâm nhập thị trờng này từ năm 1993 khi hiệp định buôn
bán hàng dệt may giữa Việt Nam và EU đợc ký kết và có hiệu lực. Canada và
13
Nauy cũng là thị trờng có quota nhng giá trị xuất khẩu sang thị trờng này không
đáng kể. Thị trờng xuất khẩu phi quota đợc mở rộng mạnh trong những năm gần
đây. Nhật Bản là thị trờng phi quota lớn nhất về mặt hàng dệt. Hồng Kông,
Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc là những nớc nhập khẩu khá nhiều hàng dệt may
của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam vẫn tiếp tục xuất khẩu hàng ệt may sang Nga
và các nớc Đông âu nhng chủ yếu dới hình thức đổi hàng và thanh toán nợ. Các n-
ớc nh Trung Quốc, Indonexia, Thái Lan đều có một ngành công nghiệp dệt may
xuất khẩu khá lớn. Việt Nam thực thi chính sách bảo hộ đối với một số mặt hàng
dệt sản xuất đợc trong nớc trớc sự cạnh tranh rất mạnh từ phía hàng ngoại. Hàng
năm nhập khẩu các mặt hàng dệt (kể cả nguyên liệu cho ngành dệt và sản phẩm
dệt) chiếm 6-7% tổng giá trị nhập khẩu của cả nớc. Nhập khẩu hàng dệt cho mục
đích tiêu dùng chiếm phần lớn số hàng dệt nhập (4 - 5% tổng giá trị nhập khẩu của
cả nớc). Trong những năm trở lại đây ngành dệt may đã chiếm lĩnh thị trờng trong
nớc, tăng cờng xuất khẩu, tốc độ tăng trởng của ngành không cao và không ổn
định. Thực trạng này của ngành do nhiều yếu tố tác động, có những yếu tố là
khách quan, và cũng có những yếu tố chủ quan.
Tuy chế độ bao cấp đã xoá bỏ, nhng Nhà nớc vẫn thi hành những chính sách
cấp vốn và hỗ trợ đầu t từ nguồn ngân sách Nhà nớc theo hớng tập trung vào
những dự án, công trình trọng điểm, đem lại hiệu quả kinh tế đối với nền kinh tế.
Bên cạnh đó nguồn vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc, các doanh nghiệp dệt còn đợc
u tiên trong việc vay vốn tín dụng đầu t của Nhà nớc, kể cả nguồn vốn ODA. Mặc
dù đợc hỗ trợ từ phía Nhà nớc các doanh nghiệp dệt, đặt biệt các doanh nghiệp t
nhân vẫn luôn trong tình trạng thiếu vốn, nhất là vốn đầu t dài hạn. Có một số
doanh nghiệp đã phải khắc phục tình trạng này bằng cách dùng vốn lu động để
đầu t đổi mới trang thiết bị nhng họ lại phải đứng trớc một khó khăn là phải chịu
lãi suất coa và thời gian trả nợ ngắn. Để giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp
phải tăng tỷ lệ khấu hao tính vào giá thành. Lãi suất vay vốn đầu t và tỷ lệ khấu
hao cao làm cho giá của mặt hàng dệt tăng, ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của
ngành dệt. Phần lớn các khoản đầu t cho ngành dệt trong năm 1997 - 1998 là tính
bằng động ngoại tệ. Kih chính phủ Việt Nam thực hiện điều chỉnh tỷ giá vào tháng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét