Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hang thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Viêt Nam.docx

+ Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn quan trọng của ngân
hàng. Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền được ngân hàng giao cho một
quyển sổ tiết kiệm, sổ này coi như giấy chứng nhận có tiền gửi vào quỹ của ngân
hàng.
Hai loại tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có tính chất ổn định trong thời
gian dài nên rất được các ngân hàng thương mại chú trọng và có biện pháp kích thích
bằng việc tạo ra các sản phẩm huy động với thời hạn và mức lãi suất huy động khác
nhau với nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất huy động càng cao.
- Vốn vay: Ngân hàng có thể huy động vốn vay bằng cách vay ngắn, trung
hoặc dài hạn từ ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác hoặc nhận quỹ uỷ thác đầu
tư của các tổ chức tài trợ (chính phủ hay quốc tế) để cho vay ưu đãi đối với một số
đối tượng được lựa chọn.
- Vốn huy động khác: Ngân hàng có thể huy động vốn bằng cách phát hành
các loại chứng khoán (kỳ phiếu, trái phiếu ) để huy động vốn từ dân cư hay tổ chức,
công ty nào đó
b. Hoạt động nghiệp vụ tài sản có:
Hoạt động nghiệp vụ tài sản có là hoạt động nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của
ngân hàng thương mại vào các hoạt động kinh doanh chủ yếu sau:
- Hoạt động cho vay: Là việc ngân hàng thương mại cho khách hàng vay một
số tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định và khi hết hạn vay, người vay
phải hoàn trả ngân hàng một khoản tiền bao gồm cả gốc và lãi.
Nghiệp vụ cho vay là hoạt động nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các ngân hàng
thương mại và cũng là hoạt động nghiệp vụ có thể thúc đẩy hay kìm hãm các hoạt
động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.
Nghiệp vụ cho vay có thể được phân loại theo các tiêu thức khác nhau như:
+Theo thời gian: gồm có cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn.
+Theo đối tượng vay: cho vay nông nghiệp, công nghiệp, công ích, cá nhân.
- Hoạt động đầu tư: bao gồm:
+ Đầu tư chứng khoán.
+ Đầu tư liên doanh, liên kết.
c. Hoạt động trung gian (Dịch vụ ngân hàng):
5
Trong hoạt động ngân hàng, các dịch vụ ngân hàng được coi là các hoạt động
nghiệp vụ bên thứ ba bên cạnh các hoạt động nghiệp vụ có và các hoạt động nghiệp
vụ nợ. Thông thường ngân hàng cung cấp các dịch vụ trung gian như:
+ Hoạt động bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết trả thay cho khách hàng
trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán hoặc không thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ với bên yêu cầu bảo lãnh.
+ Thanh toán
+ Kinh doanh ngoại hối, vàng bạc đá quý
+ Nhận uỷ thác, ký gửi
+ Hoạt động tư vấn đầu tư.
+ Hoạt động đại lý kinh doanh chứng khoán
Các hoạt động của ngân hàng thương mại có quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho
nhau. Trong đó hoạt động nghiệp vụ nợ là cơ sở để thực hiện hoạt động nghiệp vụ có.
Hoạt động nghiệp vụ có làm tăng khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại, góp
phần mở rộng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng do được tăng vốn dự trữ, tăng khả
năng huy động vốn. Trên cơ sở hoạt động nghiệp vụ tín dụng, các ngân hàng thương
mại có thể thực hiện được các hoạt động nghiệp vụ trung gian. Nếu thực hiện tốt hoạt
động nghiệp vụ trung gian thì ngân hàng thương mại có điều kiện tăng nguồn vốn vì
hoạt động nghiệp vụ trung gian vừa gần hoạt động nghiệp vụ có lại vừa gần hoạt
động nghiệp vụ nợ.
1.2.Hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM.
1.2.1. Khái quát về cho vay tiêu dùng.
Hoạt động cho vay tiêu dùng đã có một lịch sử phát triển lâu dài, nó xuất hiện
từ thời phong kiến, tại nhiều quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, nó chỉ thực sự có những
bước tiến đáng kể và mạnh mẽ trong khoảng thời gian gần đây.
Vào những năm 80 của thế kỷ 20, hệ thống ngân hàng thương mại của Mỹ
phải tiến hành cải cách trước sự cạnh tranh gay gắt ảnh hưởng đến việc thực hiện các
nghiệp vụ của các NHTM. Trong thực tế, sự cạnh tranh mạnh mẽ đã tạo ra những
thay đổi to lớn trong lĩnh vực công nghệ, luật pháp , và chính sự thay đổi đó đã tạo
ra sự thay đổi về các dịch vụ mà ngân hàng cung ứng, đồng thời vai trò của NHTM
trong hệ thống tài chính cũng không còn duy trì được như trước, từ đó đã dẫn đến sự
6
thay đổi cơ cấu trong các NHTM. Môi trường cạnh tranh thay đổi một cách nhanh
chóng và mạnh mẽ khiến các ngân hàng thương mại nếu không tiến hành đổi mới thì
không thể tham gia cạnh tranh trong hệ thống tài chính được.
Các NHTM không chỉ phải cạnh tranh với chính các ngân hàng trong cùng hệ
thống, mà bên cạnh đó nó còn phải đối đầu với các tổ chức tài chính như: Công ty tài
chính, Công ty bảo hiểm, Công ty thuê mua v.v đã ra đời và đang cùng tham gia
chia sẻ thị phần thị trường với nó. Cuộc cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính càng
diễn ra mạnh mẽ khi vào những năm 1970, các nhà môi giới đã tạo lập nên “thị
trường tiền tệ bán lẻ”. Do đó, đến đầu những năm 1980, trước đòi hỏi của các ngân
hàng về một “lĩnh vực tham gia ở mức độ cao hơn”, Quốc hội Mỹ đã cho phép các
ngân hàng cung ứng “tài khoản thị trường tiền tệ” và dịch vụ môi giới.
Cũng trong giai đoạn này, sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã tạo ra
nhiều phương tiện máy móc hiện đại như: máy tính nối mạng, máy rút tiền tự động
v.v , đã góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các ngân hàng mà
còn với các tổ chức tài chính khác. Cùng với các tiến bộ đó, hoạt động tín dụng của
hệ thống NHTM đã có sự thay đổi. Nếu như trước đây, các ngân hàng chỉ giới hạn
trong phạm vi hoạt động cho vay thương mại, thì đến giai đoạn này họ đã mở rộng
lĩnh vực hoạt động bằng việc triển khai hoạt động cho vay tiêu dùng, đặc biệt là sau
cuộc khủng hoảng vào những năm 1980.
Một yếu tố khách quan thúc đẩy hoạt động tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh
đó là xuất phát từ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Thông qua mối quan
hệ này, ngân hàng thấy được nhu cầu tín dụng theo hình thức này từ cả phía người
sản xuất lẫn người tiêu dùng. Các nhà sản xuất cần có sự hỗ trợ để gia tăng tiêu thụ
hàng hoá, còn người tiêu dùng cần tìm nguồn tài trợ cho các nhu cầu mà hiện tại sự
tích luỹ của họ chưa đáp ứng được.
Ngày nay, lĩnh vực cho vay tiêu dùng đang phát triển mạnh mẽ. Nhiều công ty
chuyên môn hoá đã tìm kiếm nhiều dạng dịch vụ khác nhau và hiện đang mở rộng
dần ra, phù hợp với việc cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ. Lĩnh vực này cũng
không còn chỉ do các ngân hàng và công ty tài chính thực hiện nữa mà các công ty
7
bảo hiểm, công ty chứng khoán, ngân hàng tiết kiệm bưu điện vv cùng tham gia
cung cấp dịch vụ này.
Tại Việt Nam, hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM đã phát triển vào
những năm 1993 – 1994, trong thời gian đầu này tập trung nhiều vào cho vay trả góp,
các sản phẩm cung ứng còn rất đơn điệu. Tuy nhiên, do chưa có hành lang pháp lý rõ
ràng nên hoạt động được một thời gian các ngân hàng tỏ ra rất lúng túng trong việc
cấp tín dụng theo hình thức này.
Hiện nay, khi mà một số văn bản pháp luật hướng dẫn đã ra đời thì lĩnh vực
cho vay tiêu dùng ở nước ta lại đang trong xu thế rộ lên, nó đang được xem là thị
trường tiềm năng lớn và có nhiều điều kiện phát triển mạnh cho các NHTM tại Việt
Nam.
Vậy thế nào là cho vay tiêu dùng?
Có người thì cho rằng: cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho nhu cầu chi
tiêu (mua sắm phương tiện, đồ dùng, sửa chữa nhà cửa, chi cho học hành, y tế, du
lịch ) của cá nhân hay hộ gia đình.
Tuy nhiên, một khái niệm mang tính đầy đủ về cho vay tiêu dùng tại NHTM
là: Cho vay tiêu dùng nghiệp vụ trong đó ngân hàng là người cho vay , người đi vay
là các cá nhân , hộ gia đình ,trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng
thời gian xác định nhằm giúp ngượi tiêu dung sử dụng hàng hoá,dịch vụ trước khi họ
có khả năng chi trả ,tạo điều kiện cho họ được hưởng mức sống cao hơn
1.2.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng.
Quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay rất lớn.
Do mục đích vay tiêu dùng nên quy mô các khoản vay không lớn. Vì nhu cầu
của dân cư với các loại hàng hoá xa xỉ là không cao hoặc đã có tích luỹ trước đối với
các loại tài sản có giá trị lớn. Song, nhu cầu vay tiêu dùng là khá phổ biến do đối
tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội từ những người có thu
nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong
phú và đa dạng.
8
Nguồn trả nợ: khách hàng trích nguồn thu nhập từ lương, thu nhập từ hoạt
động kinh doanh của mình (không phải là từ kết quả sử dụng những khoản vay đó).
Mục đích vay: Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình
không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. Nhu cầu đó có thể xuất phát từ việc:
mua nhà, sửa chữa nhà, xây dựng, mua sắm phương tiện, đồ dùng, hay các nhu cầu
du lịch, học hành hoặc giải trí
Về rủi ro: Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự ảnh
hưởng của các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nó còn
phải chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân khách hàng.
Trong cuộc sống, chúng ta không thể lường trước được hết hậu quả do những
rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thiên tai… Đặc biệt, hoạt động cho
vay tiêu dùng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, nhất là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng
suy thoái. Khi đó, người tiêu dùng sẽ không thấy tin tưởng vào tương lai và cùng với
những lo lắng về nguy cơ thất nghiệp, họ sẽ hạn chế việc vay mượn từ ngân hàng.
Ngoài ra, cho vay tiêu dùng còn chịu một số rủi ro chủ quan như tình trạng sức
khoẻ, khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình…Điều đó tạo nên rủi ro lớn cho
ngân hàng, hơn nữa thông tin tài chính của đối tượng này rất khó đầy đủ và chính xác
hoàn toàn. Mặt khác yếu tố đạo đức của cá nhân người tiêu dùng cũng là nhân tố tác
động trực tiếp vào việc trả nợ cho ngân hàng, hay số lượng các khoản vay tiêu dùng
là rất lớn trong khi đó số lượng CBTD ngân hàng lại có hạn cũng sẽ tạo nên rủi ro
cho ngân hàng.
Chi phí mỗi khoản cho vay tiêu dùng là khá lớn.
Do thông tin về nhân thânD, lai lịch và tình hình tài chính của khách hàng
thường không đầy đủ và khó thu thập, ngân hàng phải bỏ nhiều chi phí cho công tác
thẩm định và xét duyệt cho vay. Hơn nữa phần lớn các khoản vay với số lượng lớn và
giá trị nhỏ nên ngân hàng phải chịu một khoản chi phí đáng kể để quản lý hồ sơ
khách hàng. Chính vì thế, cho vay tiêu dùng trở thành khoản mục có chi phí lớn nhất
trong các khoản mục tín dụng ngân hàng.
9
Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao.
Do rủi ro cao và chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ của cho vay tiêu dùng lớn
nên ngân hàng thường đặt lãi suất rất cao đối với các khoản cho vay tiêu dùng. Bên
cạnh đó, số lượng các khoản cho vay tiêu dùng là khá nhiều, khiến cho tổng quy mô
cho vay tiêu dùng là rất lớn, cùng với tiền lãi thu được từ mỗi khoản vay làm cho
tổng lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay tiêu dùng là đáng kể.
1.2.3. Phân loại cho vay tiêu dùng
Có nhiều cách phân chia cho vay tiêu dùng thành các loại khác nhau, tuỳ theo
tiêu thức chúng ta lựa chọn mà cho vay tiêu dùng được phân chia thành:
Căn cứ vào mục đích vay.
Cho vay tiêu dùng bất động sản. Là khoản tín dụng được cấp nhằm tài trợ
cho nhu cầu mua, xây dựng, cải tạo nhà cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình).
Đặc điểm của những món vay này là quy mô thường lớn, thời gian dài. Việc đánh giá
giá trị tài sản tài trợ có vai trò vô cùng quan trọng đối với ngân hàng. Nếu như trong
cho vay tiêu dùng thông thường thì thu nhập tương lai của người vay là yếu tố quan
trọng để ngân hàng quyết định có cho vay hay không thì trong cho vay nhà ở, giá trị
và tình hình biến động giá của tài sản được tài trợ là yếu tố mà ngân hàng rất quan
tâm. Bởi vì khoản tín dụng tài trợ cho loại tài sản này có giá trị lớn, nên sự biến động
theo hướng không có lợi của nó sẽ dẫn tới những thiệt hại rất lớn cho ngân hàng.
• Cho vay tiêu dùng thông thường.
Đây là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm
phương tiện§, đồ dùng, du lịch, học hành, y tế hoặc giải trí Đặc điểm của những
khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn. Do đó mà mức độ
rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng bất động sản.
Đối với loại cho vay này, yếu tố quyết định cho vay hay không là khả năng trả nợ của
người vay, sau đó mới xem xét đến giá trị tài sản đảm bảo.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả.
10
Theo tiêu thức này thì cho vay tiêu dùng được phân thành:
Cho vay tiêu dùng trả góp:
Theo hình thức tài trợ này, thì người đi vay trả nợ cho ngân hàng (gồm cả gốc
và lãi) theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy định (tháng,
quý ). Hình thức này áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc với những khách
hàng mà thu nhập định kỳ của họ không đủ để thanh toán hết một lần số nợ vay. Đối
với loại cho vay này ngân hàng cần chú ý đến những vấn đề cơ bản sau:
- Loại tài sản được tài trợ: thiện chí trả nợ của người vay sẽ tốt hơn khi tài sản
hình thành từ tiền vay thỏa mãn nhu cầu lâu bền của họ trong tương lai. Với mỗi ngân
hàng, họ rất quan tâm đến việc lựa chọn tài sản để tài trợ và thường họ chỉ muốn tài
trợ cho những tài sản có thời gian sử dụng dài, có giá trị lớn; với những tài sản này,
người vay có thể hưởng tiện ích của nó trong một khoảng thời gian dài.
- Số tiền phải trả trước: với hình thức này, ngân hàng sẽ yêu cầu người đi vay
phải có vốn tự có trên tổng phương án xin vay, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay,
thường chỉ cho vay từ 45% - 65% tổng giá trị tài sản tùy theo các yếu tố như: loại tài
sản, thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng, thực lực tài chính, trình độ và nhân
thân, lai lịch của người vay. Quy định này của ngân hàng nhằm tránh trường hợp
khách hàng dùng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản thế chấp, khi phải phát mại
tài sản không gây nhiều rủi ro cho ngân hàng.
Điều khoản thanh toán.
Số tiền thanh toán mỗi kì hạn phải phù hợp với khả năng về thu nhập sau khi
đã trừ đi các khoản chi tiêu khác.
Giá trị tài sản không được thấp hơn số tiền cho vay chưa được thu hồi.
Thời hạn cho vay không nên quá dài nhằm tránh cho việc tài sản tài trợ bị
giảm giá trị theo thời gian đi kèm với rủi ro tín dụng tăng lên.
Số tiền mà khách hàng phải thanh toán mỗi kì hạn trả nợ có thể được tính
bằng các phương pháp như sau:
11
Phương pháp lãi đơn: theo đó, vốn gốc người đi vay phải trả từng kì hạn trả
nợ được tính đều nhau, bằng cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kì hạn thanh toán
hoặc có thể được thực hiện theo quý hay theo năm tài chính.
Phương pháp lãi gộp: đây là phương pháp thường được áp dụng trong cho vay
tiêu dùng trả góp. Theo phương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cách lấy vốn
gốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp với vốn gốc rồi chia cho số kì
hạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi kì hạn trả nợ.
Vấn đề phân bổ lãi vay theo thời gian.
Khi sử dụng phương pháp lãi gộp để tính lãi, các ngân hàng thường tiến hành
phân bổ phần lãi cho vay đã được tính. Việc phân bổ có thể được thực hiện theo định
kì gắn liền với các kì hạn thanh toán hoặc có thể được thực hiện theo quý hoặc theo
năm tài chính.
Vấn đề trả nợ trước hạn
Khi người đi vay trả nợ trước hạn xảy ra trường hợp: nếu tiền trả góp theo
phương pháp lãi đơn thì vấn đề rất đơn giản, người đi vay chỉ phải thanh toán toàn bộ
gốc còn thiếu và lãi vay của kì hạn hiện tại cho ngân hàng. Tuy nhiên nếu tiền lãi
được tính bằng phương pháp lãi gộp thì vấn đề sẽ phức tạp hơn vì theo phương pháp
này, lãi được giả định rằng tiền vay sẽ được khách hàng sử dụng cho đến lúc kết thúc
hợp đồng, nếu khách hàng trả nợ trước hạn thì thời hạn nợ thực tế sẽ khác với thời
hạn nợ ban đầu và như vậy số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi. Khi đó, người ta
sẽ sử dụng phương pháp phân bổ lãi cho vay theo thời gian để tính số lãi thực tế phải
thu, dựa trên thời hạn nợ thực tế.
Cho vay tiêu dùng trả một lần.
Đây là hình thức tài trợ mà theo đó số tiền vay của khách hàng sẽ được thanh
toán một lần khi hợp đồng tín dụng đến hạn. Đặc điểm của các khoản tín dụng này
thường có quy mô nhỏ, thời hạn cho vay ngắn. Ngân hàng áp dụng hình thức này bởi
đây là biện pháp sẽ giúp ngân hàng không mất nhiều thời gian như khi phải tiến hành
12
thu nợ làm nhiều kỳ. Trong thực tế, khoản cho vay tiêu dùng cấp theo hình thức này
là rất ít.
Căn cứ vào phương thức cho vay giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn.
Theo đó cho vay tiêu dùng được phân thành:
Cho vay tiêu dùng trực tiếp:
Đây là hình thức trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng của
mình, việc thu nợ cũng được tiến hành trực tiếp bởi chính ngân hàng. Có thể hình
dung qua các bước sau:
(1). Ngân hàng và người tiêu dùng ký hợp đồng tín dụng với nhau.
(2). Người tiêu dùng trả trước nhà cung cấp một phần số tiền mua hàng hoá
của mình.
(3). Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho nhà cung cấp.
(4). Nhà cung cấp giao hàng hoá cho người tiêu dùng.
(5). Người tiêu dùng thanh toán khoản nợ cho ngân hàng.
Ưu điểm của hình thức tài trợ này là: rất linh hoạt vì có sự đàm phán trực tiếp
giữa ngân hàng và khách hàng, quyết định cho vay hay không hoàn toàn do ngân
hàng quyết định, ngoài ra ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ kiến thức kinh
nghiệm của CBTD. Hơn nữa, khi khách hàng quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có
nhiều khả năng họ sẽ sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng như mở tài khoản tiền
gửi tiết kiệm, dịch vụ chuyển tiền và như vậy quyền lợi của cả hai phía ngân hàng
và khách hàng đều được thỏa mãn trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp của cả hai bên.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp:
Đây là hình thức ngân hàng không trực tiếp ký hợp đồng với người tiêu dùng,
mà theo hình thức này ngân hàng sẽ ký kết hợp đồng với chính nhà cung cấp, thực ra
là mua những khoản nợ, để trên cơ sở đó nhà cung cấp sẽ bán chịu hàng hoá cho
người tiêu dùng. Hợp đồng ký kết giữa ngân hàng và nhà cung cấp quy định rõ điều
13
kiện bán chịu như: đối tượng khách hàng được bán chịu, loại hàng được bán chịu, số
tiền được bán chịu v.v. Thông qua những điều kiện đó mà nhà cung cấp sẽ thoả
thuận với khách hàng của mình về việc bán chịu hàng hoá.Có thể hình dung qua các
bước sau:
(1). Ngân hàng và nhà cung cấp ký hợp đồng mua bán nợ.
(2). Nhà cung cấp và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá.
(3). Nhà cung cấp giao hàng hoá cho người tiêu dùng.
(4). Nhà cung cấp bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng để được
thanh toán.
(5). Ngân hàng thanh toán cho nhà cung cấp.
(6). Người tiêu dùng thanh toán khoản nợ cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức
sau:
Tài trợ truy đòi toàn bộ: theo phương thức này, khi bán hàng cho ngân hàng
các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết thanh toán cho
ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn, người tiêu dùng không thanh toán
cho ngân hàng.
Tài trợ truy đòi hạn chế: theo phương thức này, chịu trách nhiệm của Công ty
bán lẻ đối với các khoản nợ người tiêu dùng mua chịu, không thanh toán chỉ giới hạn
trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thỏa thuận
giữa ngân hàng với công ty bán lẻ.
Tài trợ miễn truy đòi: theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho
ngân hàng, công ty bán lẻ không còn trách nhiệm trong việc chúng có được hoàn trả
hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro cao cho ngân hàng nên chi phí của
khoản vay thường được ngân hàng tính cao hơn so với các phương thức nói trên và
các khoản nợ được mua cũng được kén chọn rất kỹ. Ngoài ra, chỉ những công ty bán
lẻ rất được ngân hàng tin cậy mới được áp dụng phương thức này.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét