LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng công tác xây dựng quỹ nhà, quỹ đất tái định cư giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố hà nội": http://123doc.vn/document/1051310-thuc-trang-cong-tac-xay-dung-quy-nha-quy-dat-tai-dinh-cu-giai-phong-mat-bang-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi.htm
cảnh quan đô thị, bảo tồn các di tích và an toàn cho đô thị, không những vậy
còn đảm bảo đời sống, lao động và phát triển toàn diện ngời dân đô thị.
Quy hoạch mở rộng đô thị cần diện tích đất rất lớn. Do đó, đô thị
ngày càng phát triển và mở rộng không gian ra các vùng ngoại ô, một phần
không nhỏ đất nông nghiệp phải chuyển sang các mục đích sử dụng khác để
đáp ứng các nhu cầu của đô thị hoá. ở Việt Nam quá trình đô thị hoá đang
diễn ra với tốc độ và quy mô lớn. Đất nớc đang trên con đờng CNH, HĐH;
sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị là một xu hớng đáng mừng, điều này
phản ánh tiềm lực kinh tế của đất nớc. Nhu cầu về đất đai để xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế, kỹ thuật cũng nh cơ sở hạ tầng xã hội, cơ sở sản xuất kinh
doanh, dịch vụ, vui chơi, giải trí, nhà ở cho ngời dân là rất lớn. Quy
hoạch phát triển đô thị nhằm tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh, có quy củ,
song chính sự quy hoạch này cũng làm ảnh hởng trực tiếp đến đời sống của
ngời dân trong và ngoài đô thị. Để có đất phục vụ cho việc xây dựng các cơ
sở hạ tầng đợc coi là bộ mặt của đô thị, Nhà nớc phải tiến hành công tác
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố cũng nh ngoài
thành phố. Những diện tích đất nông nghiệp trớc đây nay phải chuyển sang
các mục đích khác hay kể cả những diện tích đang đợc sử dụng trong thành
phố nhng cha phù hợp cũng nằm trong quy hoạch lại đô thị và buộc phải
thay đổi. Công việc thu hồi những diện tích đất này tạo mặt bằng phục vụ
lợi ích chung trong quy hoạch phát triển đô thị đóng vai trò quyết định để
triển khai các dự án tuy nhiên lại đợc tiến hành hết sức khó khăn, phức tạp.
GPMB có ảnh hởng trực tiếp đến lợi ích của các cá nhân, tổ chức đang sử
dụng đất và ngay cả lợi ích của Nhà nớc. GPMB làm thay đổi hoạt động sản
xuất kinh doanh cũng nh sinh hoạt hiện có của ngời đang sử dụng mảnh đất
đó, do vậy rất khó khăn để ngời thành phố có thể sẵn sàng rời bỏ để chuyển
sang nơi ở mới hoặc nơi sản xuất kinh doanh mới. Mà vấn đề khó khăn nhất
đó là vấn đề đền bù thiệt hại cho ngời dân trong diện GPMB. Ngời dân bị di
dời chỉ chấp nhận khi họ đợc đền bù một cách thoả đáng, song đôi khi đòi
hỏi này lại vợt quá khỏi phạm vi cho phép của Nhà nớc, do vậy không thể
Đặng Thị Thanh Lợng
Luận văn tốt nghiệp
thực hiện đợc. Giải quyết tốt đợc vấn đề đền bù GPMB mới có thể đảm bảo
tiến độ của công tác GPMB. Trong những năm qua, Nhà nớc thành phố đã
đa ra nhiều những chính sách, quy định cụ thể trong vấn đề đền bù thiệt hại
GPMB nhng xem ra còn có khá nhiều những bất cập cần phải giải quyết.
2. Công tác giải phóng mặt bằng và vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng
2.1. Thực chất của đền bù giải phóng mặt bằng.
Luật đất đai năm 1993 của Việt Nam quy định: đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nớc quản lý. Nh vậy Nhà nớc với vai trò là ngời đại
diện quản lý đất đai trên phạm vi lãnh thổ đất nớc mình, Nhà nớc nắm trong
tay quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng đất đai, Nhà nớc
có quyền nắm giữ toàn bộ số vốn đất đai trong phạm vi cả nớc, quyết định
số phận pháp lý của đất đai đồng thời có quyền lợi dụng tính năng của đất
để phục vụ cho lợi ích kinh tế và đời sống của con ngời. Nhà nớc giao một
phần quyền sử dụng đất đai cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn dịnh, lâu dài dới hình thức giao đất (thu tiền hoặc không thu tiền sử dụng
đất) hoặc cho thuê đất. Ngời sử dụng đất có quyền lợi dụng tính năng của
đất phục vụ cho lợi ích của mình nhng phải sử dụng đúng mục đích và thực
hiện nghĩa vụ đối với đất đai theo đúng quy định của Nhà nớc, nghĩa vụ đó
còn bao gồm ngời sử dụng đất phải trao trả Nhà nớc diện tích đất đã đợc
giao khi trong trờng hợp nhà nớc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Đứng trên góc độ pháp lý đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nớc
đại diện quản lý, cho nên Nhà nớc có quyền thu hồi đất để phục vụ cho phát
triển kinh tế và đời sống vì lợi ích quốc gia, lợi ích nhân dân. Tuy nhiên về
mặt kinh tế thì Nhà nớc lại là bên vi phạm hợp đồng, vi phạm quyền sử
dụng đất của ngời sử dụng, cho nên tất yếu phải đền bù cho bên bị vi phạm
khi tiến hành thu hồi đất.
Thực chất của ĐBGPMB chính là việc chi trả, bù đắp những tổn thất,
thiệt hại về đất đai, những chi phí tháo dỡ, di chuyển nhà ở, vật kiến trúc,
công trình hạ tầng kỹ thuật, cây cối, hoa màu và các chi phí khác để ổn định
Đặng Thị Thanh Lợng
Luận văn tốt nghiệp
đời sống, sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp, vị trí cho ngời bị thu hồi đất
đai, sở hữu tài sản trên đất khi Nhà nớc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Mà bản chất của
đền bù chính là bồi thờng những thiệt hại, những tổn thất cho việc thay đổi
chức năng hay mục đích sử dụng giữa các loại đất gây ra việc phá vỡ, di
chuyển những công trình gắn với mảnh đất ấy.
Chính sánh ĐBGPMB bao gồm những quy định về việc đền bù thiệt
hại về đất, về tài sản gắn liền với đất thu hồi, các biện pháp hỗ trợ để ổn
định sản xuất và đời sống cho ngời có đất bị thu hồi.Trong tình hình đất nớc
ngày càng phát triển nh hiện nay, nhu cầu về mặt bằng cho các dự án đầu t,
các công trình phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội ngày càng tăng. Công
tác đền bù, giải phóng mặt bằng là điều kiện ban đầu và tiên quyết để triển
khai các dự án, tuy nhiên công tác này có ảnh hởng trực tiếp đến lợi ích của
Nhà nớc, của chủ đầu t, ảnh hởng đến đời sống vật chất và tinh thần của ng-
ời bị thu hồi đất, góp phần thu hút vốn cho đầu t phát triển. Nhận thức rõ
vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng của công tác đền bù thiệt hại GPMB ,
trong nhiều năm qua Chính phủ, các bộ ngành ở TW và chính quyền các địa
phơng đã không ngừng quan tâm tập trung xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực
hiện những chính sách về ĐBGPMB.
Trớc hiến pháp năm 1980, trong điều kiện đang sở hữu về đất đai,
chính sách đền bù, TĐC của Việt Nam đợc quy định tại Nghị định số
151/TTg ngày 14/04/1959 của Thủ tớng Chính phủ quy định thể lệ tạm thời
về chng thu ruộng đất và Thông t số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Phủ
Thủ tớng quy định một số điểm tạm thời về bồi thờng nhà cửa, đất đai, hoa
mầu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố theo
nguyên tắc phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã, của
nhân dân. Đến khi Nhà nớc xác lập quyền sở hữu duy nhất và tuyệt đối về
đất đai tại Hiến pháp 1980, Hội đồng Bộ trởng đã ban hành quyết định số
186/HĐBT ngày 31/05/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp,
lâm nghiệp có rừng khi chuyển sang mục đích khác. Tuy nhiên, đây thực
Đặng Thị Thanh Lợng
Luận văn tốt nghiệp
chất là biện pháp của Nhà nớc nhằm hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp,
đất có rừng sang sử dụng vào mục đích khác hơn là chính sách đền bù nh
cách hiểu hiện nay.
Sau năm 1992, nhu cầu sử dụng đất cho phát triển hạ tầng kinh tế, kỹ
thuật, hạ tầng ngày càng tăng nhanh, cùng với sự đòi hỏi khách quan phải
trao quyền cho ngời sử dụng đất trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị tr-
ờng. Hiến pháp 1992 tiếp tục khẳng định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nớc thống nhất quản lý, song Nhà nớc đã thực hiện giao đất sử dụng ổn
định lâu dài và trao cho ngời sử dụng đất quyền chụyển đổi, chuyển nhợng,
quyền cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn liên doanh và trong trờng hợp
cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia,
Nhà nớc có thể trng mua, trng dụng tài sản theo thời giá thị trờng. Đồng
thời theo quy định của Luật đất đai 1993, Nhà nớc thực hiện giao đất sử
dụng ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức, Nhà nớc còn
cho tổ chức, hộ gia đình, cà nhân thuê đất. Tuỳ theo hình thức giao đất hay
thuê đất ngời sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê,
thừa kế, thế chấp, góp vốn liên doanh và trong trờng hợp Nhà nớc thu hồi
đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích công cộng, lợi ích
quốc gia thì ngời bị thu hồi đất đợc hởng bồi thờng theo quy định cụ thể của
Nhà nớc. Có thể nói Hiến pháp 1992 và Luật đất đai 1993 đã đặt cơ sở pháp
lý cho chính sách đền bù và tái định c (TĐC) hiện hành và đợc cụ thể hoá
bằng Nghị định 90/CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ quy định về việc
đền bù thiệt hại khi Nhà nớc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Nghị định này là hành
lang pháp lý quan trọng cho việc GPMB thực hiện dự án đầu t trong giai
đoạn từ 1994- 1998. Tuy nhiên sau hơn 3 năm thực hiện, Nghị định này đã
bộc lộ những tồn tại nhất định nh: cha bao quát điều chỉnh đầy đủ phạm vi
thu hồi đất; đền bù thiệt hại về đất đai, tài sản, cơ chế hỗ trợ cho ngời bị thu
hồi đất ch a đáp ứng đợc yêu cầu do thực tiễn đặt ra. Trớc tình hình đó
chính sách mới về ĐBGPMB đã đợc ra đời theo Nghị định số 22/1998/NĐ-
Đặng Thị Thanh Lợng
Luận văn tốt nghiệp
CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ thay thế cho Nghị định 90/CP và đựoc
áp dụng chung cho tất cả các dự án trên địa bàn địa phơng hoặc cho từng dự
án cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế của địa phơng.
2.2. Đối t ợng đ ợc h ởng đền bù và phạm vi đền bù thiệt hại.
2.2.1. Đối tợng đợc hởng đền bù:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất hợp pháp hay sở hữu tài sản
gắn liền với đất hợp pháp theo quy định của pháp luật; các doanh nghiệp,
các tổ chức kinh tế, xã hội đang sử dụng hợp pháp và đã nộp tiền sử dụng
đất mà tiền đó không thuộc nguồn vốn của ngân sách Nhà nớc.
- Việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của tổ chức, cá nhân nớc ngoài,
tổ chức quốc tế, ngời Việt Nam định c ở nứoc ngoài đã đợc Nhà nớc Việt
Nam cho thuê đất giải quyết theo quyết định riêng của Chính phủ.
- Ngoài ra những trờng hợp sau đây khi thu hồi đất tuy không đợc h-
ởng đền bù về đất nhng đợc hởng đền bù về tài sản và trợ cấp vốn hoặc xem
xét cấp đất mới.
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tạm giao, đất thuê của Nhà nớc
hoặc đất đấu thầu.
+ Cơ quan Nhà nớc, tổ chức chính trị xã hội, các đơn vị lực lợng vũ
trang nhân dân, các tổ chức kinh tế của Nhà nớc đợc giao đất mà đợc miễn
không phải nộp tiền giao đất bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nớc (NSNN).
- Những ngời sử dụng đất bất hợp pháp khi Nhà nớc thu hồi đất
không đợc đền bù thiệt hại về đất và phải chịu mọi chi phí tháo dỡ, GPMB
theo yêu cầu của Nhà nớc.
Đặng Thị Thanh Lợng
Luận văn tốt nghiệp
2.2.2. Phạm vi đền bù.
- Đền bù thiệt hại về đất cho toàn bộ diện đất đợc thu hồi mà ngời sử
dụng đất có giấy tờ hợp pháp theo quy định của pháp luật tại điều 6 Nghị
định 22/CP hoặc giấy tờ chứng minh đợc đã sử dụng đất ổn định trớc
15/10/1993.
- Đền bù thiệt hại về tài sản hiện có bao gồm: các công trình kết cấu
hạ tằng gắn liền với đất bị thu hồi.
- Trợ cấp đời sống và sản xuất cho những ngời phải di chuyển chỗ ở,
di chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh.
- Trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp cho những ngời có đất bị thu hồi
phải chuyển nghề nghiệp.
- Trả các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tổ chức thực hiện đền bù,
di chuyển GPMB
2.3. Các loại đền bù và ph ơng án đền bù .
2.3.1. Các loại đền bù.
+ Đền bù thiệt hại về đất : là việc Nhà nớc đền bù quyền sử dụng đất
cho ngời sử dụng trong thời gian hợp đồng giao hoặc cho thuê đất của Nhà
nớc đối với ngời sử dụng có hiệu lực.
- Nguyên tắc đền bù: khi Nhà nớc thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích xây dựng công trình phục vụ dự án phát triển kinh tế trên địa bàn thì
ngời có đất bị thu hồi đợc đền bù bằng đất, tiền hoặc nhà ở.
+ Đền bù thiệt hại về tài sản: Nhà nớc đền bù về những tài sản gắn
liền với đất cho những ngời sở hữu hợp pháp của nguồn tài sản đó theo quy
định của pháp luật. Bao gồm: nhà ở, công trình kiến trúc, cây trồng, vật
nuôi, và các tài sản khác gắn liền với đất hiện có tại thời điểm thu hồi.
- Nguyên tắc đền bù:
* Chủ sở hữu tài sản là ngời có tài sản hợp pháp quy định ở trên khi
Nhà nớc thu hồi đợc đền bù theo giá trị hiện có của tài sản.
Đặng Thị Thanh Lợng
Luận văn tốt nghiệp
* Chủ sở hữu tài sản có trên đất bất hợp pháp quy định tại điều 7 Nghị
định 22/CP tuỳ từng trờng hợp cụ thể, đợc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
TW xem xét hỗ trợ.
2.3.2. Phơng án đền bù.
* Đền bù thiệt hại về đất:
+ Phơng án đền bù bằng đất:
- Nguyên tắc: khi Nhà nớc giao đất sử dụng vào mục đích nào thì khi
Nhà nớc thu hồi đất đợc đền bù bằng cách giao đất có cùng mục đích sử
dụng để thay thế.
- Nguồn đất để đền bù:
Quỹ đất cha sử dụng.
Đất đợc khai hoang bằng nguồn vốn ngân sách
Đất mới đợc tạo lập dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng
phục vụ việc thu hồi
- Đất thu hồi từ những ngời sử dụng đất không đúng quy định (tại điều
26 Luật đất đai 1993)
- Đất công ích của mỗi địa phơng: 5% đất nông nghiệp do mỗi địa ph-
ơng để lại phục vụ cho các yêu cầu công ích của địa phơng.
+ Phơng án đền bù bằng tiền:
Phơng án này đuợc thực hiện khi Nhà nớc không thể đền bù đủ hoàn
toàn đất do quỹ đất đền bù có hạn hoặc ngời bị thu hồi bị thu hồi không yêu
cầu đền bù bằng đất thì sẽ đền bù hoàn toàn bằng tiền hoặc bằng đất và một
phần chênh lệch do thiếu bằng tiền.
- Trờng hợp đền bù hoàn toàn bằng tiền: giá đền bù do UBND cấp
tỉnh ban hành dựa trên cơ sở khung giá đất do Chính phủ quy định nhân với
hệ số điều chỉnh K(hệ số vị trí, diện tích, hạng đất, khả năng sinh lợi của
đất ). Khung giá đất đ ợc quy định tại nghị định 87/CP và theo quyết định
302/TTg về điều chỉnh hệ số K, nghị định số 17/1998/NĐ-CP về việc sửa
dổi bổ xung khoản 2 điều 4 của Nghị định 87/CP.
Đặng Thị Thanh Lợng
Luận văn tốt nghiệp
- Trờng hợp đền bù một phần bằng đất và một phần chênh lệch bằng
tiền: mức đền bù bằng đất ở cho hộ gia đình đợc xác định theo thứ tự u tiên
hộ gia đình có diện tích đất bị thu hồi nhiều đợc đền bù nhiều, hộ gia đình
có quy mô đất bị thu hồi nhỏ đợc đền bù đất ít hơn theo một tỷ lệ ( % )
thống nhất nhng đảm bảo mức đất ở đợc đền bù bằng mức đất tối thiểu đối
với hộ gia đình nh ở, nh ở địa bàn đô thị là 40m
2
. Số chênh lệch về diện tích
thực tế bị thu hồi với đất đợc đền bù bằng tiền.
+ Phơng án đền bù bằng nhà ở:
Trong trờng hợp diện tích bị thu hồi nhỏ hơn cả mức tối thiểu quy định
nh bên trên (nh diện tích ở đô thị là 40m
2
) thì ngời bị giao đất ở tại khu
TĐC, đợc giao bằng mức đất tối thiểu và phần chênh lệch diện tích phải nộp
tiền theo quy định hiện hành.
Khoản 3 điều 10 Nghị định 22/CP cũng ghi rõ: đất bị thu hồi là đất ở
thì đợc đền bù thiệt hại bằng tiền, nhà ở hoặc đất ở tại khu TĐC .
Đối với đất ở thu hồi thuộc nội thành đô thị loại I và loại II thì chủ yếu
đền bù bằng nhà ở hoặc bằng tiền. Việc đền bù bằng đất ở thuộc nội thành
đô thị loại I, II cho ngời có đất bị thu hồi chỉ đợc thực hiện trong các trờng
hợp có dự án TĐC ngay khu vực thu hồi đất, TĐC ở các khu quy hoạch khu
dân c hoặc các khu dân c khác thuộc đô thị đó đã đợc cơ quan Nhà nớc có
thẩm quyển phê duyệt.
* Đền bù thiệt hại về tài sản:
Phơng án đền bù thiệt hại về tài sản là phơng án trả tiền theo giá hiện
có của tài sản. Trong trờng hợp mức giá đền bù không đủ để xây dựng một
ngôi nhà mới có tính chất kỹ thuật tơng đơng đã phá vỡ thì hộ gia đình đợc
đền bù thêm không vợt quá giá xây dựng mới.
- Nhà, công trình xây dựng trên đất thuộc đối tợng đơc đền bù thiệt
hại theo quy định tại điều 6 của Nghị định 22/CP thì đợc đền bù theo quy
định của điều 17 của nghị định này.
- Đối nhà, công trình trên đất không thuộc đối tợng đợc đền bù thiệt
hại theo quy định tại điều 7 của Nghị định 22/CP, nhng tại thời điểm xây
Đặng Thị Thanh Lợng
Luận văn tốt nghiệp
dựng mà cha có quy hoạch hoặc xây dựng phù hợp với quy hoạch, không vi
phạm hành lang bảo vệ công trình, thì đợc trợ cấp 70% mức đền bù quy
định tại điều 17 nghị định 22/CP nếu xây dựng vi phạm quy hoạch đã đợc
công bố, vi phạm hành lang bảo vệ công trình, thì không đợc đền bù; trong
trờng hợp đặc biệt, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW xem xét hỗ trợ
cho từng trờng hợp cụ thể.
II. Vấn đề TĐC và phát triển quỹ nhà , quỹ đất TĐC phục vụ GPMB
1. Khái niệm Tái Định C và công tác Tái Định C.
1.1. Khái niệm Tái Định C .
GPMB đảm bảo quỹ đất xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng trong quá
trình đô thị hoá, dẫn đến thực trạng ngời dân tại vùng quy hoạch dự án phát
triển buộc phải di chuyển chỗ ở, điểu này ảnh hởng đáng kể đến đời sống,
và thu nhập của họ. Do vậy việc thực hiện các dự án phát triển thờng kèm
theo vấn đề TĐC không tự nguyện (TĐC bắt buộc).
TĐC là việc thay đổi không tự nguyện về vật chất, kinh tế xã hội đối
với những ngời bị ảnh hởng bởi dự án mà nguyên nhân là do dự án gây ra.
Một số ngời bị ảnh hởng không còn cách lựa chọn nào khác ngoài việc phải
xây dựng lại cuộc sống, thu nhập và cơ sở tài sản của họ tại một nơi nào đó.
Trong những thập kỷ gần đây, khi các dự án phát triển đợc triển khai
mạnh mẽ ở các nớc đang phát triển, vấn đề TĐC không tự nguyện (hay
TĐC bắt buộc) ngày càng nổi lên và thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức
quốc tế, các Chính phủ và tổ chức phi Chính phủ ở khắp nơi trên thế giới.
Trung bình mỗi năm có hàng triệu ngời buộc phải di chuyển chỗ ở do các
dự án phát triển, những ngời phải di chuyển này đã bị ảnh hởng đáng kể tới
đời sống và mức thu nhập, thậm chí nhiều ngời còn bị rơi vào cảnh nghèo
túng, mà nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng nay là: các gia đình nông
dân không còn ruộng đất; tình trạng thất nghiệp ở nơi ở mới; tình trạng
không có nhà ở trong một thời gian dài; sự chênh lệch giá cả giữa nơi mới
chuyển tới và nơi ở cũ do vị trí giao thông không thuận lợi, đất đai kém màu
mỡ hơn hay cơ sở hạ tầng kém hơn; bệnh tật và chết chóc ra tăng do không
Đặng Thị Thanh Lợng
Luận văn tốt nghiệp
phù hợp điều kiện sinh thái mới; sự mất ổn định về lơng thực; mất cơ hội sử
dụng tài sản xã hội chung, sự phân tán về mặt xã hội (mất các mạng lới xã
hội thân quen để duy trì cuộc sống nh quan hệ dòng tộc, họ hàng ); trẻ em
bị gián đoạn việc học tập hoặc phải bỏ học do vậy, nếu công tác TĐC
không đợc quan tâm thích đáng thì vô hình chung trong khi mang lại lợi ích
phát triển cho một số đông dân chúng trong xã hội, các dự án phát triển lại
tình cờ gây ra tai hoạ cho một số ít ngời khác. Để tránh sự thiếu công
bằng này, cần có chính sách và biện pháp thoả đáng giúp những ngời bị
ảnh hởng bởi các dự án phát triển khôi phục lại cuộc sống và mức thu nhập
nh khi không có dự án, cải thiện thêm cuộc sống, nghĩa là tạo điều kiện cho
họ đợc hởng các lợi ích mà dự án mang lại để bù cho những khó khăn vất
vả mà họ đã phải gánh chịu để dự án có thể tiến hành một cách suôn sẻ.
Khung chính sách TĐC bao gồm tất cả những biện pháp đợc thực hiện
bởi hợp phần dự án để giảm nhẹ bất cứ hoặc tất cả ảnh hởng xã hội xấu của
dự án đối với ngời bị di dời, bao gồm bồi thờng cho tài sản thu nhập và điều
khoản về những đền bù khác, hỗ trợ khôi phục thu nhập và chỗ ở khi cần
thiết.
Một chính sách TĐC hoàn chỉnh phải bao gồm cả quá trình từ khi bồi
thờng đến khi ngời bị ảnh hởng tổ chức, sắp xếp lại hoặc di chuyển tạo lập
nơi ở mới và ổn định các điều kiện sinh hoạt, cũng nh đảm bảo các nguồn
thu nhập của họ không bị suy giảm để mức sống đợc duy trì nh trớc khi có
dự án, nếu không phải là tăng lên, . điều đó đòi hỏi các chủ dự án phải
quan tâm giúp đỡ những ngời bị ảnh hởng trong suốt quá trình TĐC, từ việc
tìm nơi ở mới thích hợp, tổ chức các khu TĐC; trợ giúp chi phí vận chuyển,
trợ giúp đời sống trong khoảng thời gian các hộ bận do phải di chuyển, làm
nhà, đến việc hỗ trợ những ngời bị ảnh hởng hoặc đào tạo lại nghề, tạo điều
kiện cho vay vốn để phát triển sản xuất hoặc cung cấp các dịch vụ phát triển
nông nghiệp do vậy, ngoài các biện pháp bồi th ờng về đất đai, tài sản và
các nguồn thu nhập bị mất, thì việc hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng khu TĐC,
hỗ trợ di chuyển, chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ nhà ở trong thời gian chờ
Đặng Thị Thanh Lợng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét