Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

đổi mới tổ chức, quản lý tổng công ty hoá chất việt nam theo mô hình tập đoàn kinh tế


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đổi mới tổ chức, quản lý tổng công ty hoá chất việt nam theo mô hình tập đoàn kinh tế": http://123doc.vn/document/1054952-doi-moi-to-chuc-quan-ly-tong-cong-ty-hoa-chat-viet-nam-theo-mo-hinh-tap-doan-kinh-te.htm


Chơng 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn của tổ chức, quản lý
tổng công ty theo mô hình Tập đoàn kinh tế
1.1. Một số vấn đề chung về Tập đoàn kinh tế
1.1.1. Khái niệm, phân loại Tập đoàn kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm Tập đoàn kinh tế
Ngày nay, thuật ngữ Tập đoàn kinh tế (TĐKT) đợc sử dụng khá phổ
biến trong đời sống kinh tế, nhất là trong các văn bản của Đảng và Nhà nớc.
Tuy nhiên, khó có thể tìm thấy một định nghĩa đợc thừa nhận chung về TĐKT
trong giới học thuật. Một số nhà khoa học gọi TĐKT là tập đoàn kinh doanh.
Chẳng hạn, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam:
Tập đoàn kinh doanh là tổ hợp các công ty hoạt động trong một
ngành hay những ngành khác nhau, trong phạm vi một nớc hay
nhiều nớc, tiềm lực kinh tế - tài chính mạnh, cơ cấu phức tạp, vừa
kinh doanh vừa liên kết kinh tế nhằm tăng cờng tích tụ, tập trung,
tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận [53, tr.99].
Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh Nhóm doanh nghiệp, đặc trng
quy mô lớn và mục tiêu tăng khả năng cạnh tranh và lợi nhuận của TĐKT.
Tuy nhiên, khía cạnh liên kết, nội dung chủ đạo của TĐKT lại đợc nêu khá
mờ nhạt.
Theo GS.TSKH Vũ Huy Từ thì:
Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh
đa dạng, có quy mô lớn, nó vừa có chức năng sản xuất-kinh doanh,
vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cờng khả năng tích tụ
tập trung cao nhất các nguồn lực ban đầu (vốn, sức lao động, công
nghệ) để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trờng và tối đa hoá lợi
nhuận [55].
5
Trong định nghĩa này, tác giả đã nêu đợc các đặc trng căn bản của TĐKT
nh: Kinh doanh đa dạng, quy mô lớn, cơ cấu phức tạp và nhấn mạnh tính liên
kết, tính mục tiêu của TĐKT nhng khía cạnh Nhóm doanh nghiệp lại không
đợc nêu rõ.
Trong Luật doanh nghiệp năm 2005, (Điều 146) TĐKT đợc coi là một
hình thức của nhóm công ty với định nghĩa: Nhóm công ty là tập hợp các
công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ,
thị trờng và các dịch vụ kinh doanh khác. Cách định nghĩa này quá nhấn
mạnh nhóm công ty mà cha nêu đợc các đặc trng cơ bản khác biệt của TĐKT
với các nhóm doanh nghiệp khác.
Từ điển Thơng mại Anh - Pháp - Việt dịch TĐKT từ thuật ngữ tiếng Anh
là Group với nghĩa tổ hợp doanh nghiệp, trong đó gồm một công ty mẹ và các
công ty khác mà công ty mẹ kiểm soát hay có tham gia. Mỗi công ty con, tự
bản thân nó có thể kiểm soát công ty khác hay tham gia các tổ hợp khác. Định
nghĩa này mới chỉ nêu đợc một loại hình đặc biệt của TĐKT.
Trên thực tế, ở các nớc khác nhau, TĐKT cũng đợc gọi bằng các tên khác
nhau. ở Anh, Đức và Pháp, Mỹ TĐKT đợc gọi là Cartel, Syndicate, Trust,
Group, ngời ấn Độ gọi TĐKT là Business houses, ở Hàn Quốc TĐKT là
Chaelbols, ở Nhật Bản TĐKT đợc gọi là Keiretsu, Trung Quốc dùng thuật ngữ
Tập đoàn doanh nghiệp
Sở dĩ có nhiều cách hiểu và tên gọi khác nhau nh thế là do tính đa dạng
và khó định hình của TĐKT. Trong đời sống hiện thực, ngời ta khó xác định
đợc giới hạn thị trờng và tiềm lực kinh tế thực sự của một tập đoàn, mặc dù nó
hiển hiện nh một lực lợng kinh tế có sức chi phối thị trờng, chi phối nhiều nền
kinh tế. Có tình trạng phổ biến trên thế giới là TĐKT không đăng ký kinh
doanh dới hình thức một doanh nghiệp thống nhất, do đó, dới giác độ hệ
thống, nhiều TĐKT không có t cách pháp nhân. ở hầu hết các nớc, về mặt
pháp lý, trong quan hệ với các đối tác khác, mỗi doanh nghiệp thành viên của
6
tập đoàn tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các
nghĩa vụ tài chính của mình. Nhng về mặt quản lý và lợi ích kinh tế, các
doanh nghiệp có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc vào nhau về nhiều
phơng diện nh doanh nghiệp này đầu t vốn vào doanh nghiệp kia, các doanh
nghiệp chịu sự phân công chuyên môn hoá và hợp tác với nhau để cùng tạo ra
một sản phẩm hoàn chỉnh, hoặc cùng cộng đồng trách nhiệm, phụ thuộc nhau
về thơng hiệu, thậm chí phụ thuộc nhau về các cam kết ràng buộc theo kiểu
hợp đồng Do phụ thuộc lẫn nhau nên các doanh nghiệp trong TĐKT phải
chịu sự kiểm soát lẫn nhau, trong đó thờng có một doanh nghiệp giữ vai trò
trung tâm. Đó thờng là doanh nghiệp có thế lực và có ảnh hởng nhất. Phơng
thức kiểm soát cũng vô cùng đa dạng, có thể chỉ là sự phối hợp giá, có thể là
sự liên kết để độc chiếm thị trờng, nhng cũng có thể là sự liên kết sâu theo dây
chuyền công nghệ hoặc chi tiết sản phẩm Các doanh nghiệp có thể cùng
quốc tịch, có thể khác quốc tịch. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của bất cứ
doanh nghiệp nào tham gia liên kết trong TĐKT cũng là lợi nhuận của khoản
vốn mà doanh nghiệp đầu t. Do đó, trong TĐKT bao hàm cả nhu cầu hợp tác,
cả nhu cầu thoát ly. Chỉ khi nào tất cả các doanh nghiệp tham gia liên kết đều
có lợi hơn khi không tham gia liên kết, cũng nh chỉ khi nào sự kiểm soát của
trung tâm đủ mạnh thì TĐKT mới tồn tại ổn định và vững chắc.
Với cách hiểu TĐKT nh thế, chúng tôi cho rằng, TĐKT là một nhóm
doanh nghiệp có t cách pháp nhân độc lập nhng có mối liên kết chặt chẽ với
nhau về vốn, công nghệ, thị trờng nhằm mục tiêu tăng sức cạnh tranh, giảm
chi phí và tối đa hoá lợi nhuận chung. Theo cách hiểu của chúng tôi, TĐKT
không phải một pháp nhân, nhng là một thực lực kinh tế có tổ chức vì nó có u
thế về quy mô sản phẩm, về tiềm lực công nghệ, vốn, về thị trờng. Các TĐKT
có khả năng tự bảo tồn sự liên kết khá lớn. Ngoài ra, để đảm bảo sự không ly
tâm của các doanh nghiệp thành viên, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm có
xu hớng nắm giữ phần vốn chi phối của doanh nghiệp thành viên. Chính vì
7
thế, TĐKT có mô hình phổ biến là hình tháp tham dự, trong đó doanh nghiệp
trung tâm đứng ở đỉnh hình tháp có vai trò là công ty mẹ giữ phần vốn chi
phối ở công ty con, các công ty con sẽ giữ phần vốn chi phối ở công ty cháu.
Bằng cách đó, TĐKT mở rộng phần đáy của mình phù hợp với xu hớng mở
rộng quy mô kinh doanh và đa dạng hoá ngành nghề.
1.1.1.2. Các hình thức biểu hiện chủ yếu của Tập đoàn kinh tế
Ngày nay TĐKT xuất hiện trên thế giới dới nhiều hình thức khác nhau.
Căn cứ theo các tiêu chí phân loại khác nhau, có thể xếp các TĐKT vào một
trong các loại sau đây:
Căn cứ vào mô hình tổ chức và mối quan hệ giữa các doanh nghiệp
thuộc TĐKT, ngời ta phân chúng thành ba loại:
- TĐKT liên kết cứng: Trong các TĐKT loại này, các doanh nghiệp thành
viên liên kết với nhau trong một tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài
chính, sản xuất và thơng mại. Sự kiểm soát của doanh nghiệp trung tâm đợc
thực hiện qua vai trò cổ đông chi phối và mô hình tổ chức phổ biến của các
doanh nghiệp thành viên là công ty cổ phần
- TĐKT liên kết mềm: Các doanh nghiệp trong loại TĐKT này chủ yếu
liên kết với nhau thông qua hiệp ớc hoặc hợp đồng kinh tế về các vấn đề quy
mô sản xuất, hợp tác nghiên cứu, định giá thị trờng Tập đoàn này có hình
thành ban quản trị để điều hành hoạt động chung của tập đoàn, nhng các
doanh nghiệp thành viên có mức độ độc lập cao trong các quyết định tài
chính, sản xuất và thơng mại.
- TĐKT liên kết về tài chính: Đặc trng của TĐKT loại này là các doanh
nghiệp thành viên chủ yếu có mối quan hệ về tài chính với nhau thông qua ký
kết các hiệp định về tài chính, hình thành công ty tài chính (Holding
Company) thực thi vai trò của công ty mẹ. Loại TĐKT này thờng kinh doanh
đa dạng và các doanh nghiệp thành viên có quyền tự chủ cao.
Nếu xét theo phạm vi liên kết, có các loại TĐKT sau:
8
- Cartel: là nhóm các doanh nghiệp cùng ngành liên kết với nhau theo
nguyên tắc thỏa thuận giá. Đây là liên kết ở mức thấp nhất. Trong TĐKT
không có cơ quan điều phối chung. Các doanh nghiệp phối hợp với nhau theo
nội dung hiệp ớc đã ký kết. Ngày nay có rất ít các TĐKT loại này vì liên kết
thoả thuận giá tất yếu dẫn đến độc quyền của TĐKT nên nhiều Chính phủ
ngăn cấm.
- Syndicate: Là hình thức liên kết phát triển cao hơn từ hình thức cartel.
Trong TĐKT loại này thờng xuất hiện một ban quản trị điều phối các doanh
nghiệp thành viên thực hiện cam kết chung. Thậm chí, nhiều syndicate còn
buộc các doanh nghiệp thành viên phải tiêu thụ sản phẩm thông qua văn
phòng thơng mại của tập đoàn. Vì thế, các doanh nghiệp thành viên mất quyền
độc lập về thơng mại.
- Trust: đặc trng của TĐKT loại này là hoạt động sản xuất và thơng mại
của các doanh nghiệp thành viên do một ban quản trị điều hành chung. Các
doanh nghiệp thành viên trở thành cổ đông của TĐKT. Các tập đoàn kiểu này
thờng xuất hiện trong công nghiệp với mục đích độc chiếm nguồn nguyên liệu
và công nghệ.
- Consortium: là các TĐKT trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Mô hình
tổ chức chung của cosortium là các mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành
viên do một ngân hàng lớn đảm nhận thông qua các hình thức đầu t vào sản
xuất và chứng khoán để chi phối doanh nghiệp khác.
- Concern: là TĐKT đợc tổ chức theo mô hình CTM-CTC, trong đó vai
trò điều hành chung thuộc về CTM. CTC có thể hoạt động trong rất nhiều
ngành nghề khác nhau và có quyền độc lập trong kinh doanh rất cao. CTM
chịu trách nhiệm điều phối các CTC theo mục tiêu và lợi ích chung của tập
đoàn thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc đầu t. Đây là hình thức TĐKT phổ
biến nhất hiện nay do nó vừa tận dụng đợc u thế của độc quyền, vừa tận dụng
đợc khả năng linh hoạt, tự chủ của CTC và có thể hạn chế rủi ro cho cả tập
đoàn.
9
- Congromerate: Là TĐKT đa ngành, đa lĩnh vực. Các doanh nghiệp
thành viên, mặc dù chịu sự chi phối của doanh nghiệp trung tâm, nhng có sự
khác biệt nhau rất lớn về công nghệ. Thờng CTM là công ty tài chính hoặc
gắn với công ty tài chính. Sức mạnh của tập đoàn là sức mạnh của tiềm lực tài
chính. Hiện nay, các TĐKT lớn trên thế giới đều tổ chức theo mô hình này.
- TĐKT xuyên quốc gia, đa quốc gia: là các TĐKT hoạt động trên nhiều
quốc gia khác nhau và có cổ đông thuộc các quốc tịch khác nhau. Đây là hình
thức thích nghi của TĐKT trong điều kiện tự do hoá thơng mại toàn cầu.
Ngoài các loại TĐKT nêu trên, ngày nay các TĐKT thờng kết hợp trong
nó nhiều dạng thức rất khác nhau. Vì thế, vấn đề lựa chọn mô hình và cơ cấu
tổ chức TĐKT thích hợp trở thành mối quan tâm hàng đầu của giới quản trị
doanh nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế
Mặc dù các TĐKT mang nhiều sắc thái đa dạng, phong phú, nhng có thể
thấy chúng có một số đặc điểm chung sau:
1.1.2.1. Các Tập đoàn kinh tế đều có quy mô lớn về vốn, doanh thu,
lao động, phạm vi hoạt động
Sự ra đời của các TĐKT là kết quả của sự liên kết, sáp nhập, thôn tính và
tích tụ của số lợng lớn doanh nghiệp, nên, một cách tất yếu, nó có quy mô rất
lớn về mọi chỉ tiêu.
Trớc hết là quy mô vốn lớn. Ví dụ: Năm 2005 giá trị thị trờng của Coca-
Cola là 105,5 tỷ USD, Microsof là 272,46 tỷ USD, của Intel là 391,63 tỷ USD
[29]. Vốn của TĐKT đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nh phát hành cổ
phiếu, trái phiếu mới không chỉ trên thị trờng tài chính quốc gia, mà còn trên thị
trờng tài chính thế giới, tái đầu t lợi nhuận Ngoài ra, TĐKT còn có thêm u thế
vay tín dụng với quy mô lớn nhờ có khối tài sản khổng lồ để thế chấp cũng nh có
uy tín trong kinh doanh. TĐKT còn có khả năng điều chuyển vốn nội bộ Nhờ
tiềm lực vốn lớn nên TĐKT có thể đầu t những dự án lớn, có khả năng chịu đựng
10
thua lỗ ở một vài doanh nghiệp thành viên trong thời gian dài và do đó có khả
năng chịu đựng các biến động lớn của thị trờng. Đây là thế mạnh vợt trội của
TĐKT so với các doanh nghiệp đơn lẻ khác.
Thứ hai, các TĐKT thờng có doanh thu khổng lồ và chiếm thị phần lớn
cả ở quy mô quốc gia và quốc tế. Ví dụ: Năm 2006 doanh thu của Exxon
Mobil là 339,938 tỷ USD; của Wal - Mart Stores là 315,654 tỷ USD [42].
TĐKT có đợc thị phần sản phẩm lớn, một phần là do quy mô sản xuất lớn,
phần khác do các tập đoàn chuyên môn hoá cao nên có chi phí thấp và TĐKT
rất chú trọng xây dựng mạng lới tiêu thụ sản phẩm, cắm chi nhánh ở nhiều
quốc gia. Thị phần lớn còn là mục tiêu theo đuổi của nhiều TĐKT, nhất là dới
khía cạnh tạo độc quyền phân phối sản phẩm để thu lợi nhuận độc quyền. Ví
dụ năm 1998, tập đoàn phần mềm của Microsoft của Hoa Kỳ chiếm
60-70% thị phần dịch vụ phần mềm trên toàn thế giới. Hai tập đoàn Coca Cola
và Pepsi chiếm khoảng 3/4 thị phần đồ uống có gas của thế giới. Nhờ doanh thu và
thị phần lớn nên các TĐKT không chỉ có sức mạnh thị trờng mà còn có thơng hiệu
mạnh. Ví dụ: Thơng hiệu của BMW có giá thị trờng là 17,126 tỷ USD.
Thứ ba, các TĐKT không chỉ có lực lợng lao động đông về số lợng mà
còn mạnh về chất lợng do đợc tuyển chọn và đào tạo rất nghiêm ngặt. Ví dụ:
Năm 2006, tập đoàn Fedex có 212.241 nhân công; tập đoàn Intel có 48.655
nhân công; tập đoàn P&G có trên 100.000 nhân công [37]. Ngoài ra, do hoạt
động ở nhiều nớc khác nhau, do có tiềm lực tài chính mạnh nên các TĐKT có
u thế trong cạnh tranh thu hút nguồn lao động có chất lợng cao trên toàn thế
giới. Thông thờng, các doanh nghiệp trong TĐKT đợc chuyên môn hoá cao
nên lao động cũng đợc chuyên môn hoá và đào tạo thống nhất. Tổ chức lao
động trong TĐKT cũng đợc chuẩn hoá ở mức cao. Các doanh nghiệp thành
viên đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định công nghệ của tập đoàn.
TĐKT cũng là nơi có lực lợng cán bộ nghiên cứu khoa học hùng mạnh và làm
chủ số lợng lớn các phát minh, sáng chế có giá trị thơng mại. Đây là một thế
mạnh vợt trội nữa của các TĐKT.
11
Thứ t, phạm vi hoạt động của TĐKT thờng vợt quá biên giới quốc gia. Ví
dụ: Tập đoàn Dầu hoả Royal Dutch Shell có vốn đầu t vào hơn 2000 công ty
đặt tại 130 quốc gia; Intel có hơn 100 chi nhánh ở hơn 30 quốc gia; Tập đoàn
sản xuất máy bay Boing của Mỹ đặt chi nhánh ở hơn 120 nớc; Tập đoàn
Mittal Steel của Mỹ đặt chi nhánh ở hơn 150 nớc khắp 4 châu lục. Tập đoàn
P&G có nhà máy sản xuất taị hơn 80 quốc gia trên thế giới Ngày nay, phạm
vi hoạt động của TĐKT càng có xu hớng mở rộng nhờ sự hỗ trợ của các thành
tựu thông tin liên lạc hiện đại, phơng tiện vận tải nhanh chóng. Các tập đoàn
vừa tận dụng u thế của chuyên môn hoá trong sản xuất trên cơ sở sử dụng tối
đa lợi thế so sánh của từng nớc để đặt các chi nhánh tại nhiều nớc trên thế
giới, vừa mở rộng phạm vi hoạt động để tận dụng hiệu quả theo quy mô. Cách
tổ chức nh vậy làm tăng u thế của TĐKT trong cạnh tranh.
1.1.2.2. Hầu hết các Tập đoàn kinh tế đều kinh doanh đa ngành và đa
lĩnh vực
Khác với đầu thế kỷ XIX, thời kỳ có nhiều TĐKT hoạt động đơn ngành,
ngày nay, hầu hết các TĐKT đều hoạt động đa ngành nghề, đa lĩnh vực, nhng
có ngành chuyên sâu. TĐKT cần đa dạng hoá hoạt động để: 1) Có thể san sẻ
rủi ro giữa các ngành với nhau sao cho tình trạng chung của tập đoàn luôn ổn
định, hạn chế sự phụ thuộc vào biến động của thị trờng ngành; 2) Tạo điều
kiện sử dụng u thế của các doanh nghiệp khác nhau, tận dụng thế mạnh của
công nghệ, tạo sự liên kết giữa cung ứng đầu vào, chế biến và tiêu thụ sản
phẩm; 3) Dễ thay đổi chiến lợc kinh doanh phù hợp với sự phát triển kinh tế và
môi trờng kinh doanh.
Tuy nhiên, thờng thấy, mỗi tập đoàn đều có định hớng ngành mũi nhọn
cho những sản phẩm đặc trng của tập đoàn nhằm xây dựng danh tiếng, tạo sự
khác biệt hoặc phát huy thế mạnh công nghệ riêng có
Quá trình đa dạng hoá hoạt động của các tập đoàn thờng theo hai con đ-
ờng: theo chiều dọc và theo chiều ngang. Đa dạng hoá theo chiều dọc liên
quan đến mở rộng phạm vi hoạt động theo các ngành có công nghệ gần hoặc
12
liên hệ lẫn nhau. Đa dạng theo chiều ngang là sự mở rộng phạm vi hoạt động
theo các ngành khác nhau về công nghệ, nhng bổ sung cho nhau: Bên cạnh
những đơn vị sản xuất, mở thêm các đơn vị thơng mại, các cơ sở kinh doanh
trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, hay tạo dựng các viện nghiên
cứu, trờng đào tạo. Ngày nay, do thị trờng thay đổi nhanh nên một TĐKT
mạnh thờng có cơ cấu sản xuất kinh doanh trong tất cả các ngành nghề, kể cả
các ngành không có liên quan. Mô hình tập đoàn khá phổ biến hiện nay là
TĐKT gồm một ngân hàng, một số công ty thơng mại, các công ty sản xuất
công nghiệp. Xu hớng chung là các tổ chức tài chính, ngân hàng và viện
nghiên cứu ngày càng có vị trí quan trọng hơn trong TĐKT.
Mỗi tập đoàn có chiến lợc đa dạng hoạt động khác nhau. Ví dụ:Tập đoàn
ITT ban đầu là một công ty xuyên quốc gia dẫn đầu về ngành điện tín, điện
thoại trên thế giới. Ngày nay, công ty đã bành trớng trong cả lĩnh vực thông
tin liên lạc, ngân hàng, khai thác đáy biển, vũ trụ, bảo hiểm, máy tính. Tập
đoàn Nippon (Nhật Bản), ban đầu kinh doanh thép, sau khi nghiên cứu nhu
cầu thị trờng và dự đoán trong những năm tới nhu cầu thép sẽ không tăng nữa,
tập đoàn chuyển hớng sang kinh doanh thực phẩm, khách sạn, ăn uống, phần
mềm máy tính, công nghệ sinh học, thị trờng chứng khoán. Hiện nay, cá biệt
cũng còn tồn tại một số TĐKT chỉ kinh doanh trong một số ít lĩnh vực nhất
định nh ngân hàng, bảo hiểm , nhng bản thân các tập đoàn này cũng đang có
định hớng đa dạng hoá.
1.1.2.3. Các Tập đoàn kinh tế có cơ cấu tổ chức phức tạp
Thờng cơ cấu tổ chức của TĐKT đợc xây dựng trên nền tảng văn hoá,
đặc điểm ngành nghề kinh doanh, phong cách quản lý, chiến lợc xây dựng và
phát triển của mỗi tập đoàn. Song nhìn chung, cơ cấu TĐKT bao giờ cũng
phức tạp hơn các doanh nghiệp đơn lẻ. Tính chất phức tạp không chỉ do TĐKT
thờng đa sở hữu, mà còn do mối quan hệ liên kết, do cấu trúc và do tính đa
chức năng. Về đại thể, cơ cấu tổ chức nội bộ tập đoàn có thể là một trong ba
kiểu phổ biến sau:
13
- Cơ cấu tổ chức hình tháp: Đỉnh tháp là trung tâm quyền lực điều hành
mọi hoạt động của tập đoàn. Sự phát triển theo nhánh từ trên xuống.
- Cơ cấu tổ chức phân cấp: Các quan hệ thờng đợc phân định và giới hạn
theo cấp quản lý nh: Cấp 1 chỉ quản lý cấp 2, cấp 2 chỉ quản lý cấp 3; cấp 1
không quản lý cấp 3
- Cơ cấu tổ chức quản lý theo mạng lới: Các quan hệ đan xen, ban đầu là
một trung tâm, phát triển theo kiểu mạng nhện, sau đó mỗi nhân tố trong mạng
lới lại có thể là một trung tâm để phát triển các mạng lới đan xen khác.
Ngoài kênh liên kết và kiểm soát chủ đạo qua đầu t vốn, doanh nghiệp
trung tâm còn kiểm soát doanh nghiệp vệ tinh thông qua chuyển giao một
phần công nghệ, liên kết về giá, liên kết theo hình thức đại lý, gia công
Tại tập đoàn các mối quan hệ chức năng mang tính chiến lợc, thị tr-
ờng, công nghệ thờng đợc điều phối chung; các chức năng thơng mại, sản
xuất và tài chính thờng đợc phân cấp mạnh cho các doanh nghiệp thành
viên.
1.1.3. Ưu điểm và hạn chế của Tập đoàn kinh tế trong nền kinh tế thị trờng
1.1.3.1. Ưu điểm của Tập đoàn kinh tế
- TĐKT tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp thành viên. Tập
đoàn có tiềm lực tài chính mạnh, có doanh thu lớn, lợi nhuận cao, do vậy có
lợi thế để đầu t sản xuất kinh doanh, để nghiên cứu khoa học - công nghệ, để
thực thi chiến lợc cạnh tranh hiệu quả. Hơn nữa, tập đoàn vừa có thơng hiệu
mạnh, vừa chiếm thị phần chi phối trên thị trờng trong nớc và khu vực, thậm
chí là cả thế giới, nên các doanh nghiệp thành viên có thể đợc hởng các u thế
đó mà không cần chi phí ban đầu lớn, nhất là ở các tập đoàn có chiến lợc
quảng bá hiệu quả thơng hiệu và có mục tiêu thâu tóm thị trờng. Các doanh
nghiệp thành viên của tập đoàn, nhờ thế mạnh của tập đoàn, mà có sức cạnh
tranh hơn các doanh nghiệp khác. Ngoài ra đa phần TĐKT có chiến lợc giá
chung, có sự phân chia thị trờng hợp lý giữa các doanh nghiệp thành viên, có
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét