LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty tư vấn xây dựng dân dụng việt nam": http://123doc.vn/document/1055363-mot-so-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-su-dung-von-co-dinh-cua-cong-ty-tu-van-xay-dung-dan-dung-viet-nam.htm
Khái niệm: Tài sản cố định vô hình là những tài sản cố định không có
hình thái vật chất, thể hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp
đến nhiều chu kỳ kinh doanh của Doanh nghiệp nh chi phí thành lập Doanh
nghiệp, chi phí về đất sử dụng, chi phí về bằng phát minh, sáng chế, bản quyền
tác giả, mua bản quyền tác giả, nhận chuyển giao công nghệ
Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định vô hình (Theo Q/định
166/1999 BTC)
Mọi khoản chi phí thực tế mà Doanh nghiệp đã chi ra có liên quan đến hoạt
động kinh doanh của Doanh nghiệp nếu thoả mãn đồng thời 2 điều kiện sau:
1- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
2- Có giá trị từ 5000.000 đồng trở lên, thì đợc coi là tài sản cố định và
nếu không hình thành tài sản cố định vô hình thì đợc coi là tài sản cố định
vô hình
Nếu khoản chi phí này không đồng thời thoả mãn cả 2 tiêu chuẩn nêu trên
thì đợc hạch toán thẳng hoặc đợc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của Doanh
nghiệp.
Các loại tài sản cố định vô hình và nguyên giá của chúng:
1, Chi phí về đất sử dụng: là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra có liên
quan trực tiếp đến đất sử dụng bao gồm: tiền chi ra để có quyền sử dụng đất
(gồm cả tiền thuê đất hay tiền sử dụng đất trả 1 lần, nếu có; chi phí cho đền bù
giải phóng mặt bằng; san lấp mặt bằng, nếu có; lệ phí trớc bạ (nếu có) nhng
không bao gồm các chi phí chi ra để xây dựng các công trình trên đất).
Trờng hợp Doanh nghiệp trả tiền thuê đất hàng năm hoặc định kỳ nhiều
năm thì các chi phí này đợc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong (các) kỳ,
không hạch toán vào nguyên giá tài sản cố định.
2, Chi phí thành lập Doanh nghiệp
Là các chi phí thực tế hợp lý, hợp lệ và cần thiết đã đợc những ngời tham
gia thành lập Doanh nghiệp chi ra có liên quan trực tiếp tới việc chuẩn bị khai
sinh ra Doanh nghiệp bao gồm các chi phí cho công tác nghiên cứu, thăm dò
lập dự án đầu t thành lập Doanh nghiệp; chi phí thẩm định dự án, họp thành lập
nếu các chi phí này đợc những ngời tham gia thành lập Doanh nghiệp xem xét,
đồng ý coi nh một phần vốn góp của mỗi ngời và đợc ghi trong vốn điều lệ của
Doanh nghiệp.
3, Chi phí nghiên cứu phát triển.
Là toàn bộ các chi phí thực tế Doanh nghiệp đã chi ra để thực heịen các
công việc nghiên cứu, thăm dò, xây dựng các kế hoạch đầu t dài hạn nhằm
đem lại lợi ích lâu dài cho Doanh nghiệp.
5
4, Chi phí về bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, mua
bản quyền tác giả, nhận chuyển giao công nghệ là toàn bộ các chi phí thực tế
Doanh nghiệp chi ra cho các công trình nghiên cứu (bao gồm cả chi phí cho sản
xuất thử nghiệm, chi cho công tác kiểm nghiệm, nghiệm thu của Nhà nớc) đợc
Nhà nớc cấp bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, bản quyền nhãn
hiệu, chi cho việc nhận chuyển giao công nghệ từ các tổ chức và các cá nhân
mà các chi phí này có tác dụng phục vụ trực tiếp hoạt động kinh doanh của
Doanh nghiệp.
5, Chi phí về lợi thế kinh doanh.
Là khoản chi cho phần chênh lệch Doanh nghiệp phải trả thêm (chênh lệch
phải trả thêm = giá mua - giá trị của các tài sản theo đánh giá thực tế). Ngoài giá
trị của các tài sản theo đánh giá thực tế (tài sản cố định, tài sản lu động), khi
Doanh nghiệp đi mua, nhận sáp nhập, hợp nhất một Doanh nghiệp khác. Lợi thế
này đợc hình thành bởi u thế về vị trí kinh doanh, về danh tiếng, và uy tín với bạn
hàng, về trình độ tay nghề của đội ngũ ngời lao động, về tài điều hành và tổ chức
của Ban quản lý Doanh nghiệp đó
Trên thực tế phần vốn đầu t cho tài sản cố định vô hình trong tổng số đầu t
của Doanh nghiệp có chiều hớng gia tăng. Nhng việc đánh giá các tài sản bất
động vô hình rất phức tạp. Tài sản cố định hữu hình có thể tham khảo giá cả trên
thị trờng của chúng một cách tơng đối khách quan, trong khi đó đối với tài sản
cố định vô hình thờng khó khăn hơn và mang nhiều tính chủ quan. Số lợng các
tài sản cố định vô hình không khấu hao cũng rất lớn.
Nh vậy cách phân loại này có thể cho ta thấy một cách tổng quát các hình
thái của tài sản cố định, từ đó có những bp, phơng thức quản lý thích hợp.
1.2.2. Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng gồm:
1.2.2 (1) Tài sản cố định đang sử dụng
Đây là những tài sản đang trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình
sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm. Trong Doanh nghiệp, tỷ trọng tài sản cố
định đã đa vào sử dụng so với toàn bộ tài sản cố định hiện có càng lớn thì hiệu
quả sử dụng tài sản cố định càng cao.
1.2.2 (2) Tài sản cố định cha sử dụng.
Đây là những tài sản Doanh nghiệp do những nguyên nhân chủ quan, khách
quan cha thể đa vào sử dụng nh: tài sản dự trữ, tài sản mua sắm, xây dựng thiết
kế cha đồng bộ, tài sản trong giai đoạn lắp ráp, chạy thử
1.2.2 (3) Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh toán
Đây là những tài sản đã h hỏng, không sử dụng đợc hoặc còn sử dụng đợc
nhng lạc hậu về mặt kỹ thuật, đang chờ đợi để giải quyết. Nh vậy có thể thấy
rằng cách phân loại này giúp ngời quản lý tổng quát tình hình và tài năng sử
dụng tài sản, thực trạng về tài sản cố định trong Doanh nghiệp.
6
1.2.3. Phân loại tài sản cố định theo tính chất, công dụng kinh tế.
1.2.3 (1) Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: là những tài sản
cố định do Doanh nghiệp sử dụng hằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
mình.
1.2.3 (2) Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh
quốc phòng: là những tài sản cố định do Doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các
mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng trong Doanh nghiệp.
1.2.3 (3) Tài sản cố định bảo quản hộ, gửi hộ, cất giữ hộ Nhà nớc: là những
tài sản cố định Doanh nghiệp bảo quản, giữ hộ cho các đơn vị khác hoặc cất giữ
hộ Nhà nớc theo quyết định của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền.
Nói chung tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng Doanh nghiệp, Doanh nghiệp
tự phân loại chi tiết hơn các tài sản cố định của Doanh nghiệp theo từng nhóm
cho phù hợp.
1.2.4. Phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu:
Cách phân loại này giúp ngời sử dụng tài sản cố định phân biệt tài sản cố
định nào thuộc quyền sở hữu của đơn vị mình trích khấu hao, tài sản cố định nào
đi thuê ngoài không tính trích khấu hao nhng phải có trách nhiệm thanh toán tiền
đi thuê và hoàn trả đầy đủ khi kết thúc hợp đồng thuê giữa 2 bên. Tài sản cố định
sẽ đợc phân ra là:
1.2.4 (1) Tài sản cố định tự có:
Là những tài sản cố định đợc mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự có, tự
bổ sung, nguồn do Nhà nớc đi vay, do liên doanh, liên kết.
1.2.4 (2) Tài sản cố định đi thuê:
Trong loại này bao gồm 2 loại:
Tài sản cố định thuê hoạt động: tài sản cố định này đợc thuê tính theo
thời gian sử dụng hoặc khối lợng công việc không đủ điều kiện và không mang
tính chất thuê vốn.
Tài sản cố định thuê tài chính: đây là hình thức thuê vốn dài hạn, phản
ánh giá trị hiện có và tình hình biến động toàn bộ tài sản cố định đi thuê tài
chính của đơn vị.
Cách phân loại giúp đơn vị sử dụng có thông tin về cơ cấu, từ đó tính và
phân bổ chính xác số khấu hao cho các đối tợng sử dụng, giúp cho công tác hạch
toán tài sản cố định biết đợc hiệu quả sử dụng. đối với những tài sản cố định chờ
xử lý phải có những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
1.2.5. Phân loại tài sản cố định theo nguồn hình thành gồm:
1.2.5 (1) Tài sản cố định mua sắm, xây dựng bằng vốn đợc cấp
7
1.2.5 (2) Tài sản cố định mua sắm, xây dựng bằng vốn đi vay
1.2.5 (3) Tài sản cố định mua sắm, xây dựng bằng vốn tự bổ sung của đơn vị.
1.2.5 (4) Tài sản cố định nhận góp liên doanh, liên kết từ các đơn vị tham gia.
1.2.6. Phân loại tài sản cố định theo cách khác.
Toàn bộ tài sản cố định đợc phân thành các loại sau:
1.2.6 (1) Tài sản cố định cố định tài chính: là các khoản đầu t dài hạn, đầu
t vào chứng khoán và các giấy tờ có giá trị khác. Các loại tài sản này đợc Doanh
nghiệp mua và giữ lâu dài nhằm mục đích thu hút và các mục đích khác nh
chiếm u thế quản lý, hoặc đảm bảo an toàn cho Doanh nghiệp.
1.2.6 (2) Tài sản cố định phi tài chính: bao gồm các tài sản cố định cố định
khác phục vụ cho lợi ích của Doanh nghiệp nhng không đợc chuyển nhợng trên
thị trờng tài chính.
Trong nền kinh tế thị trờng để thuận lợi cho việc hạch toán ngời ta thờng
phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện kết hợp với tính chất đầu t.
Theo cách phân loại này, tài sản cố định của Doanh nghiệp đợc chia làm 4 loại
sau:
Tài sản cố định hữu hình
Tài sản cố định vô hình
Tài sản cố định thuê tài chính
Tài sản cố định tài chính
1.3. Đánh giá tài sản cố định
Ngoài việc phân loại tài sản cố định phân tích kết cấu, đánh giá tài sản cố
định, là một công việc hết sức quan trọng. Thực chất, việc đánh giá tài sản cố
định là việc xác định giá trị ghi sổ của tài sản. Tài sản cố định đợc đánh giá ban
đầu và có thể đánh giá lại trong quá trình sử dụng. Trong mọi trờng hợp, tài sản
cố định phải đợc đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn lại. Do vậy, việc ghi sổ
phải đảm bảo phản ánh đợc cả 3 chỉ tiêu về giá trị tài sản cố định là nguyên giá,
giá trị hao mòn và giá trị còn lại.
Giá trị còn lại = Nguyên giá - Giá trị hao mòn
Tuy nhiên, tuỳ theo từng laọi tài sản cố định cụ thể từng cách thức hình
thành, nguyên giá của tài sản cố định sẽ đợc xác định khác nhau.
1.3 (1) Đánh giá tài sản cố định theo nguyên giá
Nguyên giá tài sản cố định, bao gồm toàn bộ chi phí liên quan đến việc xây
dựng, mua sắm tài sản cố định kể cả chi phí vận chuyển lắp đặt, chạy thử trớc
khi dùng. Tơng ứng với mỗi loại đợc hình thành từ những nguồn khác nhau ta có
8
thể xác định đợc nguyên giá của chúng nh đã đề cập đến trong phần 1.2.1.1 và
1.2.1.2
Tuy nhiên giá tài sản cố định phản ánh thực tế số vốn đã bỏ ra để mua sắm
hoặc xây dựng tài sản cố định, là cơ sở đẻ tính khấu hao và lập bảng cân đối tài
sản cố định. Những hạn chế của nó là ở chỗ: không phản ánh đợc trạng thái kỹ
thuật của tài sản cố định. Mặt khác giá ban đầu này thờng xuyên biến động nên
định kỳ phát triển phải tiến hành kiểm kê, đánh giá lại tài sản cố định theo mặt
bằng giá cả thị trờng.
1.3 (2) Đánh giá tài sản cố định theo giá trị còn lại.
Giá trị còn lại của tài sản cố định thể hiện giá trị tài sản cố định hiện có của
Doanh nghiệp. Việc đánh giá tài sản cố định theo giá trị còn lại thực chất là xác
định chính xác, hợp lý số vốn còn phải tiếp tục thu hồi trong quá trình sử dụng
tài sản cố định để đảm bảo vốn đầu t cho việc mua sắm, xây dựng tài sản cố
định. Giá trị còn lại của tài sản cố định đợc xác định dựa trên cơ sở nguyên giá
và giá trị hao mòn.
1.3 (3) Đánh giá lại tài sản cố định.
Ngoài việc đánh giá của tài sản cố định, lần đầu nh đã nêu trên, do tiến bộ
khoa học kỹ thuật, do sự biến động về giá cả nên tài sản cố định cũng đợc đánh
giá lại. Giá trị đánh giá lại (giá trị khôi phục của tài sản cố định) đợc xác định
trên cơ sở nguyên giá tài sản cố định ở thời điểm hệ số trợt giá và hao mòn vô
hình (nếu có) cụ thể:
NGL = NGO x HT + HMVH
NGL : Giá trị đánh giá lại
NGO : Giá trị đánh giá lần đầu
HT : Hệ số trợt giá
HMVH : Hệ số hao mòn vô hình
Tất nhiên quá trình đánh giá lại tài sản cố định trên đây chỉ áp dụng đối với
tài sản cố định của Doanh nghiệp. Khi đó, giá trị còn lại của tài sản cố định sau
khi đánh giá lại đợc xác định trên cơ sở giá trị đánh giá lại và hệ số hao mòn của
tài sản cố định đó:
GcL = NGL x (1 - )
Với GcL là giá trị còn lại của tài sản cố định sau khi đánh giá lại
MkH là mức khấu hao luỹ kế của tài sản cố định đến thời điểm đánh giá lại.
1.4 Nguồn hình thành vốn cố định.
Đầu t vào tài sản cố định là một sự bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ
sung những tài sản cố định cần thiết để thực hiện mục tiêu kinh doanh lâu dài
của Doanh nghiệp. Do đó việc xác định nguồn tài trợ cho những khoản mục đầu
9
t nh vậy là rất quan trọng bởi vì nó có yếu tố quyết định cho việc quản lý và sử
dụng vốn cố định sau này. Về đại thể thì ngời ta có thể chia ra làm 2 loại nguồn
tài trợ chính.
Nguồn tài trợ bên trong: là những nguồn xuất phát từ bản thân Doanh
nghiệp nh vốn ban đầu, lợi nhuận để lại hay nói khác đi là những nguồn thuộc
sở hữu của Doanh nghiệp.
Nguồn tài trợ bên ngoài: là những nguồn mà Doanh nghiệp huy động
từ bên ngoài để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình nh vốn vay, phát hành
trái phiếu, cổ phiếu, thuê mua, thuê hoạt động.
Tuy nhiên, để làm rõ tính chất này cũng nh đặc điểm của từng nguồn vốn
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và chế độ quản lý thích hợp tài sản cố định, ng-
ời ta thờng chia các nguồn vốn nh sau:
1.4 (1) Nguồn vốn bên trong Doanh nghiệp:
Vốn do Ngân sách Nhà nớc cấp
Vốn do Ngân sách Nhà nớc cấp đợc cấp phát cho các Doanh nghiệp
Nhà nớc. Ngân sách chỉ cấp một bộ phận vốn ban đầu khi các Doanh nghiệp này
mới bắt đầu hoạt động. Trong quá trình kinh doanh, Doanh nghiệp phải bảo toàn
vốn do Nhà nớc cấp. Ngoài ra các Doanh nghiệp thuộc mọi tầng lớp, thành phần
kinh tế cũng có thể chọn đợc nguồn tài trợ từ phía Nhà nớc trong một số trờng
hợp cần thiết, những khoản tài trợ này thờng không lớn và cũng không phải th-
ờng xuyên do đó trong một vài trờng hợp hết sức khó khăn, Doanh nghiệp mới
tìm đến nguồn tài trợ này. Bên cạnh đó, Nhà nớc cũng xem xét trợ cấp cho các
Doanh nghiệp nằm trong danh mục u tiên. Hình thức hỗ trợ có thể đợc diễn ra d-
ới dạng cấp vốn bằng tiền, bằng tài sản, hoặc u tiên giảm thuế, miễn phí
Vốn tự có của Doanh nghiệp:
Đối với các Doanh nghiệp mới hình thành, vốn tự có là vốn do các
Doanh nghiệp, chủ Doanh nghiệp, chủ đầu t bỏ ra để đầu t và mở rộng hoạt động
kinh doanh của Doanh nghiệp. Số vốn tự có nếu là vốn dùng để đầu t thì phải đạt
đợc một tỷ lệ bắt buộc trong tổng vốn đầu t và nếu là vốn tự có của Công ty,
Doanh nghiệp t nhân thì không đợc thấp hơn vốn pháp định.
Những Doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, vốn tự có còn đợc hình
thành từ một phần lợi nhuận bổ sung, để mở rộng hoạt động kinh doanh của
Doanh nghiệp. Thực tế cho thấy từ tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một con đ-
ờng tốt. Rất nhiều Công ty coi trọng chính sách tái đầu t từ số lợi nhuận để lại đủ
lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng. Tuy nhiên với các Công ty cổ
phần thì việc để lại lợi nhuận có liên quan đến một số khía cạnh khá nhạy cảm.
Bởi khi Công ty để lại lợi nhuận trong năm cho tái đầu t tức là không dùng số lợi
nhuận đó để chia lãi cổ phần. Các cổ đông không đợc nhận tiền lãi cổ phần nhng
bù lại họ có quyền sở hữu số vốn tăng lên của Công ty. Tuy nhiên, nó dễ gây ra
10
sự kém hấp dẫn của cổ phiếu do cổ đông chỉ đợc nhận một phần nhỏ cổ phiếu và
do đó giá cổ phiếu có thể bị giảm sút.
Vốn cổ phần
Nguồn vốn này hình thành do những ngời sáng lập Công ty cổ phần phát
hành cổ phiếu và bán những cổ phiếu này trên thị trờng mà có đợc nguồn vốn
nhất định. Trong quá trình hoạt động, nhằm tăng thực lực của Doanh nghiệp, các
nhà lãnh đạo có thể sẽ tăng lợng cổ phiếu phát hành trên thị trờng thu hút lợng
tiền nhàn rỗi phục vụ cho mục tiêu kinh doanh. Đặc biệt để tài trợ cho các dự án
đầu t dài hạn, thì nguồn vốn cổ phấn rất quan trọng. Nó có thể kêu gọi vốn đầu t
với khối lợng lớn, mặt khác, nó cũng khá linh hoạt trong việc trao đổi trên thị tr-
ờng vốn. Tận dụng các cơ hội đầu t để đợc cả hai giá là ngời đầu t và Doanh
nghiệp phát hành chấp nhận. Tuy nhiên, việc phát hành cổ phiếu thêm trong quá
trình hoạt động đòi hỏi các nhà quản lý tài chính phải cực kỳ thận trọng và tỷ mỷ
trong việc đánh giá các nhân tố có liên quan nh: uy tín của Công ty, lãi suất thị
trờng, mức lạm phát, tỷ lệ cổ tức, tình hình tài chính Công ty gần đây. Để đa ra
thời điểm phát hành tối u nhất, có lợi nhất trong Công ty.
1.4 (2) Nguồn vốn bên ngoài của Doanh nghiệp.
Vốn vay
Mỗi Doanh nghiệp dới các hình thức khác nhau tuỳ theo quy định của
luật pháp mà có thể vay vốn từ các đối tợng sau: Nhà nớc, Ngân hàng, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, dân c trong và ngoài nớc dới các hình thức nh tín dụng
ngân hàng, tín dụng thơng mại, vốn chiếm dụng, phát hành các loại chứng khoán
của Doanh nghiệp với các kỳ hạn khác nhau. Nguồn vốn huy động này chủ yếu
phụ thuộc vào các yếu tố sau: hiệu quả kinh doanh, khả năng trả nợ, lãi suất vay,
số lợng vốn đầu t có. Tỷ lệ lãi vay càng cao sẽ tạo điều khoản cho phía Doanh
nghiệp huy động vốn càng nhiều nhng lại ảnh hởng đến lợi tức cùng với khả
năng thanh toán vốn vay và lãi suất tiền đi vay.
Vốn liên doanh
Nguồn vốn này hình thành bởi sự góp vốn giữa các Doanh nghiệp hoặc
chủ Doanh nghiệp ở trong nớc và nớc ngoài để hình thành một Doanh nghiệp
mới. Mức độ vốn góp giữa các Doanh nghiệp với nhau tuỳ thuộc vào thoả thuận
giữa các bên tham gia liên doanh.
Tài trợ bằng thuê (thuê vốn)
Các Doanh nghiệp muốn sử dụng thiết bị và kiến trúc hơn là muốn mang
danh làm chủ sở hữu thì có thể sử dụng thiết bị bằng cách thuê mớn hay còn gọi
là thuê vốn.
Thuê mớn có nhiều hình thức mà quan trọng nhất là hình thức bán rồi thuê
lại, thuê dịch vụ, thuê tài chính.
11
1, Bán rồi thuê lại (Sale and baseback)
Theo phơng thức này, một Doanh nghiệp sở hữu chủ đất đai kiến trúc và
thiết bị bán tài sản lại cho cơ quan tín dụng và đồng thời kỳ một thoả ớc thuê lại
các tài sản trên trong một thời hạn nào đó. Nếu là đất đai hay kiến trúc, cơ quan
tín dụng thờng là một Công ty bảo hiểm. Nếu tài sản là máy móc, thiết bị ngời
cho thuê có thể là một Ngân hàng thơng mại, một Công ty bảo hiểm hay một
Công ty chuyên cho thuê mớn. Lúc này ngời bán (hay ngời thuê) nhận ngay đợc
một số vốn do việc bán lại tài sản từ ngời cho thuê. Đồng thời ngời bán và ngời
thuê cùng duy trì việc sử dụng tài sản trên trong suốt thời hạn thuê mớn.
2, Thuê dịch vụ
Thuê dịch vụ bao gồm cả việc tài trợ và bảo trì. Một đặc tính quan trọng của
thuê dịch vụ là tiền thuê theo khế ớc không đủ để hoàn tra toàn thể trị giá của
thiết bị. Đơng nhiên là thời gian cho thuê rất ngắn so với đời sống thiết bị và ng-
ời cho thuê kỳ vọng thu hồi với giá cả bằng các khế ớc cho thuê khác hay khi
bán đắt thiết bị. Thuê dịch vụ đòi hỏi ngời cho thuê bảo trì các thiết bị và phí
tổng bảo trì đợc gộp trong giá thuê dịch vụ. Mặt khác có khế ớc dịch vụ thờng có
điều khoản cho ngời thuê chấm dứt thuê mớn trớc ngày hết hạn khế ớc. Đây là
điểm rất quan trọng đối với ngời thuê giúp họ có thể hoàn trả thiết bị nếu sự phát
triển cao làm cho thiết bị trở nên lạc lậu.
3, Thuê tài chính.
Đây là loại thuê không có cung cấp dịch vụ bảo trì, không thể chấm dứt hợp
đồng trớc thời hạn và đợc hoàn trả toàn bộ trị giá thiết bị. Ngời cho thuê có thể là
Công ty bảo hiểm, Ngân hàng thơng mại, hoặc Công ty chuyên cho thuê mớn.
Ngời đi thuê thờng đợc quyền lựa chọn tiếp tục thuê mớn với giá giảm bớt
hoặc mua lại sau khi hết hạn hợp đồng.
2-/ Tầm quan trọng của vốn cố định đối với Doanh nghiệp.
Về mặt giá trị bằng tiền vốn cố định phản ánh tiềm lực của Doanh nghiệp.
Còn về mặt hiện vật, vốn cố định thể hiện vai trò của mình qua tài sản cố định.
Tài sản cố định là những t liệu lao động chủ yếu tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Nó gắn liền với Doanh nghiệp trong suốt quá
trình tồn tại. Doanh nghiệp có tài sản cố định có thể không lớn về mặt giá trị nh-
ng tầm quan trọng của nó lại không nhỏ chút nào.
Trớc hết tài sản cố định phản ánh mặt bằng cơ sở hạ tầng của Doanh
nghiệp, phản ánh quy mô của Doanh nghiệp có tơng xứng hay không với đặc
điểm loại hình kinh doanh mà nó tiến hành.
Thứ hai, tài sản cố định luôn mang tính quyết định đối với quá trình sản
xuất hàng hoá của Doanh nghiệp. Do đặc điểm luân chuyển của mình qua mỗi
chu kỳ sản xuất, tài sản cố định tồn tại trong một thời gian dài và nó tạo ra tính
ổn định trong chu kỳ kinh doanh của Doanh nghiệp cả về sản lợng và chất lợng.
12
Thứ ba, trong nền kinh tế thị trờng, khi mà nhu cầu tiêu dùng đợc nâng cao
thì cũng tơng ứng với tiến trình cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Điều
này đòi hỏi các Doanh nghiệp phải làm sao để tăng năng suất lao động, tạo ra đ-
ợc những sản phẩm có chất lợng cao, giá thành hạ, nhằm chiếm lĩnh thị trờng. Sự
đầu t không đúng mức đối với tài sản cố định cũng nh việc đánh giá thấp tầm
quan trọng của tài sản cố định dễ đem lại những khó khăn sau cho Doanh
nghiệp:
Tài sản cố định có thể không đủ tối tân để cạnh tranh với các Doanh
nghiệp khác cả về chất lợng và giá thành sản phẩm. Điều này có thể dẫn các
Doanh nghiệp đến bờ vực phá sản nếu lợng vốn của nó không đủ để cải tạo đổi
mới tài sản.
Sự thiếu hụt các khả năng sản xuất sẽ giúp các đối thủ cạnh tranh
giành mất một phần thị trờng của Doanh nghiệp và điều này buộc Doanh nghiệp
khi muốn giành lại thị trờng khách hàng đã mất phải tốn kém nhiều về chi phí
tiếp thị hay phải hạ giá thành sản phẩm hoặc cả hai biện pháp.
Thứ ba, tài sản cố định còn lại một công cụ huy động vốn khá hữu hiệu:
Đối với vốn vay Ngân hàng thì tài sản cố định đợc coi là điều kiện khá
quan trọng bởi nó đóng vai trò là vật thế chấp cho món tiền vay. Trên cơ sở trị
giá của tài sản thế chấp Ngân hàng mới có quyết định cho vay hay không và cho
vay với số lợng là bao nhiêu.
Đối Công ty cổ phần thì độ lớn của Công ty phụ thuộc vào giá tài sản
cố định mà Công ty nắm giữ. Do vậy trong quá trình huy động vốn cho Doanh
nghiệp bằng cách phát hành trái phiếu hay cổ phiếu, mức độ tin cậy của các nhà
đầu t chịu ảnh hởng khá lớn từ lợng tài sản mà Công ty hiện có và hàm lợng
công nghệ có trong tài sản cố định của Công ty.
3-/ Nội dung công tác quản lý sử dụng vốn cố định.
Quản lý việc sử dụng vốn cố định là một trong những nội dung quan trọng
của công tác quản lý Doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận
động của vốn cố định gắn liền với hình thái vật chất của nó. Vì vậy để quản lý sử
dụng có hiệu quả vốn cố định có một số hình thức quản lý sau:
3.1. Hao mòn và khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định có thể bị hao mòn dới hai hình
thức: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn về mặt vật chất tức là tổn thất dần
về mặt chất lợng và tính năng kỹ thuật của tài sản cố định cuối cùng tài sản cố
định đó không sử dụng đợc nữa và phải thanh lý. Thực chất về mặt kinh tế của
hao mòn hữu hình là giá trị của tài sản cố định giảm dàn và giá trị của nó đợc
chuyển dần vào sản phẩm đợc sản xuất ra. Trờng hợp tài sản cố định không sử
dụng đợc, hao mòn hữu hình biểu hiện ở chỗ tài sản cố định mất dần thuộc tính
13
do ảnh hởng của điều kiện tự nhiên hay quá trình hoá học xảy ra bên trong cũng
nh việc trông nom, bảo quản tài sản cố định không đợc chu đáo.
Có nhiều nhân tố ảnh hởng đến hao mòn hữu hình của tài sản cố định, có
thể chia thành 3 nhóm sau:
+ Nhóm những nhân tố thuộc về chất lợng chế tạo nh: vật liệu dùng để
sản xuất ra tài sản cố định, trình độ và công nghệ chế tạo, chất lợng xây dựng,
lắp ráp.
+ Nhóm những nhân tố thuộc về quá trình sử dụng nh mức độ đảm nhận
về thời gian và cờng độ sử dụng, trình độ tay nghề của công nhân viên, việc chấp
hành quy tắc, quy trình công nghệ, chế độ bảo quản, bảo dỡng và sửa chữa
+ Nhóm những nhân tố ảnh hởng của tự nhiên nh độ ẩm, không khí, thời
tiết
Hao mòn vô hình có 3 hình thức.
+ Tài sản cố định bị giảm giá trị do năng suất lao động xã hội tăng lên,
ngời ta sản xuất ra các loại tài sản cố định mới sản xuất ra những sản phẩm có
chất lợng nh cũ nhng có giá thành hạ hơn.
+ Tài sản cố định bị giảm giá trị do sản xuất đợc loại tài sản cố định
khác hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật.
+ Tài sản cố định bị giảm giá trị do sản phẩm của nó làm ra bị lỗi thời.
Nh vậy hao mòn vô hình là do tiến bộ khoa học kỹ thuật gây ra.
Khấu hao tài sản cố định : tài sản cố định đợc sử dụng trong nhiều
chu kỳ sản xuất, giá trị của nó hao mòn dần và đợc dịch chuyển từng phần và giá
trị của sản phẩm làm ra. Phần giá trị này đợc thu hồi lại dới hình thức khấu hao,
đợc hạch toán vào giá thành sản phẩm để hình thành quỹ khấu hao đáp ứng nhu
cầu sửa chữa lớn, khắc phục, cải tạo, đổi mới, hoặc mở rộng tài sản cố định.
Khấu hao là sự bù đắp về mặt kinh tế hao mòn hữu hình và hao mòn vô
hình. Khấu hao có ý nghĩa quan trọng đối với bảo toàn và phát triển vốn, kết của
của hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực hiện khấu hao đúng đủ giá trị thực tế
tài sản cố định không những phản ánh đúng thực chất của kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh mà còn đảm bảo quỹ khấu hao, duy trì đợc số vốn bỏ ra.
Có hai hìh thức khấu hao là khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn.
Trong quá trình khấu hao, tiến trình khấu hao biểu thị phần giá trị của tài sản cố
định đã chuyển vào sản phẩm sản xuất ra trong kỳ. Do phơng thức bù đắp và
mục đích khác nhau nên tiền trích khấu hao tài sản cố định đợc chia thành 2 bộ
phận:
+ Tiền trích khấu hao cơ bản: dùng để bù đắp tài sản cố định sau khi bị
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét