Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu đô thị mới đồng văn tỉnh hà nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu đô thị mới đồng văn tỉnh hà nam": http://123doc.vn/document/1053117-danh-gia-hieu-qua-cua-du-an-dau-tu-xay-dung-co-so-ha-tang-khu-do-thi-moi-dong-van-tinh-ha-nam.htm


Chuyên dề tốt nghiệp. Gvhd: Th.s.Nguyễn Quỳnh Hoa.
3. Khái niệm cơ sở hạ tầng khu đô thị mới.
Cơ sở hạ tầng đô thị nói chung hay cơ sở hạ tầng khu đô thị mới nói
riêng là một loại hàng hoá công cộng có tầm quan trọng về kinh tế- xã hội và
giữ vai trò không thể thiếu trong mỗi đô thị. Có rất nhiều khái niệm về cơ sở
hạ tầng đô thị theo các quan điểm khác nhau. Sau đây là một số khái niệm
được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.
Toàn bộ các công trình giao thông vận tải, bưu điện thông tin liên lac,
dịch vụ xã hội như: đường sá, kênh mương, dẫn nước, cấp thoát nước, sân
bay, nhà ga xe lửa, ô tô, cảng sông, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thống
mạng điện, đường ống dẫn xăng, dẫn khí ga, hơi đốt, kho tàng, giao thông vận
tải, giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng,
nghỉ ngơi du lịch, vui chơi giải trí, rác thải môi trường đô thị… được gọi là cơ
sở hạ tầng đô thị.
Tóm lại, cơ sở hạ tầng đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt động
hạ tầng có liên quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế- xã hội của cộng
đồng dân cư đô thị và được thể hiện trên bốn bình diện sau:
1/Tiện ích công cộng: năng lượng, viễn thông, nước sạch, khí đốt, hệ
thống thu gom sử lý rác thải trong đô thị…
2/Công chánh: đường sá, các công trình xây dựng, kênh phục vụ tưới
tiêu…
3/Giao thông: Các trục và tuyến đường bộ, đường sắt, cảng và máy bay,
đường thuỷ…
4/ Hạ tầng xã hội: trường học, bệnh viện, chợ búa…
4. Vai trò, ý nghĩa của cơ sở hạ tầng khu đô thị mới.
Chúng ta có thể thấy rằng đô thị là nơi có mật độ dân cư đông đúc, mặt
khác phần lớn dân cư đều làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp, các
SVTH: Vũ Kiên Trung. Kế Hoạch
45A.
Chuyên dề tốt nghiệp. Gvhd: Th.s.Nguyễn Quỳnh Hoa.
nhu cầu ăn ở, sinh hoạt cũng khác với dân cư làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp, đòi hỏi cơ sở hạ tầng đô thị phải phù hợp, bởi vậy cơ sở hạ tầng đô thị
có một vai trò rất quan trọng đối với mỗi đô thị.
Sự phát triển các ngành của cơ sở hạ tầng đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự phát triển của nền sản xuất xã hội, dịch vụ xã hội và việc nâng cao hiệu quả
của nó. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vai trò của cơ sở hạ
tầng không ngừng được tăng lên. Các hình thức mới về giao thông vận tải và
thông tin liên lạc xuất hiện và phát triển không những trong khuôn khổ từng
nước, mà còn trên phạm vi quốc tế theo xu hướng toàn cầu hoá. Do đó, hình
thành cơ sở hạ tầng vật chất của sự hợp tác quốc tế mới, đó là toàn bộ các bộ
phận của các hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc trong nước và
nước ngoài, nhằm phục vụ cho hoạt động kinh tế đối ngoại, cũng như các công
trình và đối tượng phối hợp với nhau, đảm bảo cho việc bảo vệ mội trường
xung quanh, sử dụng hợp lý các nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác,
đảm bảo trông tin liên lạc của các cơ quan khí tượng thuỷ văn, quản lý Nhà
nước, các cơ quan phục vụ xã hội và an ninh quốc phòng… nhằm mục đích
phát triển dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
Việc quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng đô thị một cách khoa học và hợp
lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì cơ sở hạ tầng là cơ sở nền tảng đảm
bảo cho sự phát triển bền vững của cả một hệ thống đô thị quốc gia nói riêng
và sự phát triển bền vững của cả một quốc gia nói chung. Một quốc gia giàu
mạnh, hiện đại và văn minh phải có một cơ sở hạ tầng đô thị vững mạnh, tiện
lợi, hiện đại và đầy đủ.
SVTH: Vũ Kiên Trung. Kế Hoạch
45A.
Chuyên dề tốt nghiệp. Gvhd: Th.s.Nguyễn Quỳnh Hoa.
II. Đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu đô thị
mới.
1.Dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
1.1. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
Theo NĐ 42 CP, ngày 16/7/1996 của Chính Phủ thì: “ Dự án đầu tư là
tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những
đối tượng nhất định nhằm đặt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc
nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời
gian xác định”.
Dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là một bộ phận trong dự án đầu tư
xây dựng cơ bản .
Đối với dự án đầu tư xây dựng cơ bản có thể được xem xét trên nhiều
góc độ.
Về mặt hình thức: Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một tập hồ sơ tài liệu
trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một
kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện những muc tiêu nhất định
trong tương lai.
Về mặt kế hoạch: Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là công cụ thể hiện kế
hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư xây dựng cơ bản, làm tiền đề để chi
ra các quyết định đầu tư và tài trợ.
Về mặt quản lý: Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một công cụ quản lý
việc sử dụng các nguồn lực để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội
trong một thời gian dài.
Theo Quy chế quản lý đầu tư xây dựng ngày 08/07/1999 của Chính Phủ:
Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến
việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định
SVTH: Vũ Kiên Trung. Kế Hoạch
45A.
Chuyên dề tốt nghiệp. Gvhd: Th.s.Nguyễn Quỳnh Hoa.
nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao
chất lượng của sản phẩm dịch vụ trong khoảng thời gian xác định.
Như vậy nói tới dự án đầu tư có xây dựng là nói tới:
Tập hợp những đề xuất kinh tế - kỹ thuật liên quan tới việc bỏ vốn đầu tư.
Tập hợp đề xuất đó phải hướng tới làm tăng về số lượng, chất lượng sản
phẩm dịch vụ và thu lợi cao.
Tập hợp đề xuất đó được thực hiện trong khoảng thời gian xác định.
Trong khuôn khổ bài viết này em xin sử dụng khái niệm về dự án xây
dựng cơ sở hạ tầng theo quy chế quản lý đầu tư xây dựng ngày 08/07/1999
của Chính Phủ vì đây là khái niệm đang được sử dụng hợp pháp trong các dự
án.
1.2. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
Mỗi dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đều có qui mô vốn, tính chất,
thời gian thực hiện, là khác nhau. Tuy nhiên hầu hết chúng đều có 6 đặc
điểm chung sau đây:
Thứ nhất: Dự án có tính duy nhất. Mỗi dự án đều có đặc trưng riêng
biệt lại được thực hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm,
không gian thời gian, môi trường luôn thay đổi đã tạo nên tính duy nhất.
Thứ hai: Dự án bị hạn chế về thơi gian và qui mô. Mỗi dự án đều phải
có điểm khởi đầu và điểm kết thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn liên
quan. Có thể ngày hoàn thành được ấn định một cách tuỳ ý, nhưng dù sao đi
nữa nó cũng trở thành điểm trọng tâm của dự án. Sự thành công của dự án
được đánh giá bằng khả năng có đạt được đúng thời điểm kết thúc đã được
định trước hay không.
Thứ ba: Dự án có liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau. Để thực
hiện một dự án phải sử dụng rất nhiều nguồn lực như nguồn lực về tài chính,
SVTH: Vũ Kiên Trung. Kế Hoạch
45A.
Chuyên dề tốt nghiệp. Gvhd: Th.s.Nguyễn Quỳnh Hoa.
máy móc kỹ thuật, con người, tài nguyên, đất đai,… Các nguồn lực có thể
không phải xuất phát từ một chủ thể cung cấp mà được huy động từ nhiều chủ
thể khác nhau.
Thứ tư: Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo mới lạ.
Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án
không phải là sản phẩm hàng loạt mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và
dịch vụ mà dự án đem lại là duy nhất. Lao động đòi hỏi kĩ năng chuyên
môn cao, nhiệm vụ không lặp lại.
Thứ năm: Môi trường hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là
quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chưc. Dự án
cạnh tranh lẫn nhau và với các bộ phận chức năng khác cùng một nguồn lực
khan hiếm của một tổ chức như tiền vốn, nhân lực, thiết bị… Một số trường
hợp, các thành viên quản lý dự án thường có “hai thủ trưởng” trong cùng một
thời gian nên gặp khó khăn không biết thực hiện theo quyết định nào của cấp
trên khi hai bên mâu thuẫn.
Thứ sáu: Tính bất định và rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng
tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian
nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu
tư phát triển thường có độ rủi ro cao.
1.3. Các hình thức tổ chức quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng.
Theo từng điều kiện cụ thể của dự án các chủ đầu tư có thể lựa chọn các
hình thức quản lý dự án sau:
Chủ đầu tư trực tiếp thực hiện dự án: Chủ đầu tư tổ chức tuyển chọn và
trực tiếp kí hợp đồng với một hoặc nhiều tổ chức tư vấn thực hiện công tác
khảo sát, thiết kế công trình, soạn thảo hồ sơ mời thầu, tổ chức đấu thầu hoặc
SVTH: Vũ Kiên Trung. Kế Hoạch
45A.
Chuyên dề tốt nghiệp. Gvhd: Th.s.Nguyễn Quỳnh Hoa.
chỉ định thầu. Sau khi chủ đầu tư ký hợp đồng với nhà thầu xây lắp, nhiệm vụ
giám sát, quản lý thi công bảo đảm tiến độ và chất lượng công trình vẫn do tổ
chức tư vấn đã lựa chọn đảm nhận.
Chủ nhiệm điều hành dự án: Chủ đầu tư tổ chức tuyển chọn và trình cấp
thẩm quyền quyết định tổ chức tư vấn thay mình làm chủ nhiệm điều hành dự án
chịu trách nhiệm giao dịch, ký kết hợp đồng với các tổ chức khảo sát thiết kế,
cung ứng vật tư, thiết bị xây lắp để thực hiện các nhiệm vụ của quá trình thực
hiện dự án đồng thời chịu trách nhiệm giám sát quản lý toàn bộ quá trình thực
hiện dự án. Hình thức chủ nhiệm điều hành dự án chỉ được áp dụng đối với các
dự án có qui mô lớn, kỹ thuật phức tạp và thời hạn xây dựng dài.
Chìa khoá trao tay: Chủ đầu tư tổ chức thực hiện đấu thầu dự án để chọn
một nhà thầu (tổng thầu xây dựng) thực hiện toàn bộ khâu: thiết kế, mua vật
tư thiết bị, xây lắp… Chủ đầu tư chỉ trình duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự
toán, nghiệm thu và bàn giao khu dự án hoàn thành đưa vào sử dụng. Tổng
thầu xây dựng có thể giao thầu lại việc giám sát, thiết kế , mua sắm máy móc
hoặc một phần khối lượng công tác xây lắp cho nhà thầu phụ. Hình thức này
áp dụng trong việc xây dựng các công trình nhà ở, công trình dân dụng và
công trình sản xuất- kinh doanh có qui mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản.
Tự làm: Chủ đầu tư sử dụng lực lượng được phép hành nghề xây dựng
của mình để thực hiện khối lượng xây lắp tự làm. Hình thức này chỉ áp dụng
với những công trình sửa chữa, cải tạo qui mô nhỏ, công trình chuyên ngành
đặc biệt (xây dựng nông, lâm nghiệp và các công trình tự đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất của các doanh nghiệp xây dựng).
2. Hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
2.1. Hiệu quả tài chính.
SVTH: Vũ Kiên Trung. Kế Hoạch
45A.
Chuyên dề tốt nghiệp. Gvhd: Th.s.Nguyễn Quỳnh Hoa.
2.1.1. Khái niệm.
Hiệu quả tài chính (Etc) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu
phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống của
người lao động trong cơ sở các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ trên số vốn
đầu tư mà cơ sở đã sử dụng so với các kỳ khác, các cơ sở khác hoặc so với
định mức chung. Chúng ra có thể biểu diễn khái niệm này qua công thức sau
đây:
E
tc
được coi là có hiệu quả khi E
tc
> E
tc0
Trong đó:
E
tc0
là chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của kỳ khác mà cơ sở
đã đạt được được chọn làm kết quả so sánh, hoặc của đơn vị khác đạt tiêu
chuẩn hiệu quả.
Do đó, để phản ánh hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư người ta
phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu. Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh
của hiệu quả và được sử dụng trong điều kiện nhất định. Trong đó, chỉ tiêu
biểu hiện bằng tiền được sử dụng rộng rãi nhất.
2.1.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động
đầu tư.
Thời gian thu hồi vốn đầu tư (ký hiệu T): là số thời gian cần thiết để dự
án hoạt động thu hồi đủ số vốn đầu tư đã bỏ ra. Nó chính là khoảng thời gian
để hoàn trả vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận hoặc tổng lợi nhuận
thuần khấu hao thu hồi hàng năm. Trong khi xây dựng dự án, người ta thường
sử dụng hai khái niệm thời gian thu hồi vốn, đó là thời gian thu hồi vốn đơn
SVTH: Vũ Kiên Trung. Kế Hoạch
45A.
Chuyên dề tốt nghiệp. Gvhd: Th.s.Nguyễn Quỳnh Hoa.
và thời gian thu hồi vốn động. Thời gian thu hồi vốn đơn là thời gian thu hồi
vốn không tính đến giá trị của tiền theo thời gian. Còn thời gian thu hồi vốn
động co tính đến yếu tố này, vì thế phải chuyển các dòng lợi nhuận , khấu hao
và vốn đầu tư về cùng một thời điểm nào đó, sau đó lấy vốn đầu tư trừ dần
cho lợi nhuận và khấu hao. Trừ đến khi nào hết vốn đầu tư thì khi đó chính là
thời gian thu hồi vốn động. Chỉ tiêu này giúp chúng ta nhìn rõ thời gian thu
hồi vốn của một dự án, từ đó có giải pháp rút ngắn thời gian đó. Nhưng nó
cũng có nhược điểm là phụ thuộc nhiều vào lãi suất tính toán và dễ gây ngộ
nhận phải chọn phương án có T nhỏ nhất, bỏ qua phương án có NPV cao.
Giá trị hiện tại ròng (kí hiệu NPV): là thu nhập thuần của dự án sau khi
đã trừ đi các khoản chi phí của cả đời dự án được tính về mặt bằng hiện tại.
Nó cho biết quy mô tiền lãi thu được của cả đời dự án, nhưng nó cũng phụ
thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu dùng để tính toán trong khi việc xác định tỷ
lệ chiết khấu là rất khó khăn trong thị trường vốn đầy biến động. Sử dụng chỉ
tiêu này đòi hỏi xác định rõ ràng dòng thu và dòng chi của cả đời dự án, đây
là công việc khó khăn, không phải lúc nào cũng dự kiến đúng được. Hơn nữa,
chỉ tiêu này chưa nói lên hiệu quả sử dụng một đồng vốn.
Suất thu hồi vốn nội bộ (Kí hiệu IRR): là mức lãi suất nếu dùng nó làm
hệ số chiết khấu để tính chuyển các khoản thu, chi của dự án về mặt bằng
hiện tại thì tổng thu sẽ cân bằng với tổng chi. IRR cho biết tỉ lệ lãi vay tối đa
mà dự án có thể chịu đựng được, nếu vay với lãi suất lớn hơn IRR thì dự án sẽ
bị thua lỗ. Khác với các chỉ tiêu khác, chỉ tiêu IRR không có một công thức
toán học nào cho phép tính toán trực tiếp, trong thực tế IRR được tính theo
phương pháp nội suy, tức là xác định một phương án gần đúng. Nó có nhược
điểm lớn là tốn nhiều thời gian và nếu dự án có vốn đầu tư bổ sung lớn, NPV
đổi dấu nhiều lần thì sẽ khó xác định được IRR.
SVTH: Vũ Kiên Trung. Kế Hoạch
45A.
Chuyên dề tốt nghiệp. Gvhd: Th.s.Nguyễn Quỳnh Hoa.
Chỉ tiêu tỷ số lợi ích – chi phí (kí hiệu B/C): được xác định bằng tỷ số
giữa lợi ích và chi phí. Chỉ tiêu này có thể được tính về thời điểm hiện tại
hoặc tương lai. Việc quy về thời điểm tương lai để tính chỉ tiêu này ít được sử
dụng. Chỉ tiêu này ít được sử dụng hơn chỉ tiêu NPV, thường được sử dụng
để phân tích trong các dự án công cộng. Chỉ tiêu này có ưu điểm nổi bật là
xác định được hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra, nhưng nó cũng phụ thuộc
vào tỷ lệ chiết khấu lựa chọn để tính toán.
Trên đây là một số chỉ tiêu quan trọng nhất được dùng để đánh giá một
dự án, mỗi chỉ tiêu đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, vì vậy khi
đánh giá chúng ta phải kết hợp tất cả các chỉ tiêu để có thể đánh giá một cách
chính xác nhất.
SVTH: Vũ Kiên Trung. Kế Hoạch
45A.
Chuyên dề tốt nghiệp. Gvhd: Th.s.Nguyễn Quỳnh Hoa.
Bảng 1: Các chỉ tiêu phân tích tài chính của dự án đầu tư.
Tên chỉ tiêu Công thức tính Giải thích kí hiệu Nguyên tắc chọn
Thời hạn thu
hồi vốn đầu tư
T
th
= V/(P+KHCB)
T T
t t
t t
t 0 t 0
R (1 i) C (1 i)
− −
= =
− + = +
∑ ∑
R
t
: suất thu hồi ròng tại
năm t.
C
t
: vốn đầu tư tại năm t.
i: lãi suất chiết khấu.
t: năm thứ t.
T: thời gian hoàn vốn
nội bộ.
Thời gian thu hồi
vốn nhỏ nhất
Giá trị hiện tại
ròng NPV
NPV =

=
N
t 0
(B
t
– C
t
)/(1+i)
t
B
t
: doanh thu năm t.
C
t
: chi phí bỏ ra ở năm t.
i: lãi suất chiết khấu.
t: năm thứ t.
n: tuổi thọ dự án.
- NPV>0: dự án có
lời, có thể đầu tư.
- NPV=0: dự án
chỉ hoà vốn.
- NPV<0: dự án bị
lỗ.
Suất thu hồi
vốn nội bộ
IRR
IRR là lãi suất chiết khấu mà
ứng với nó giá trị hiện tại ròng
NPV = 0
NPV =

=
N
t 0
(B
t
– C
t
)/(1+IRR)
t
= 0
r: suất thu lợi nhuận tối
thiểu
Một phương án
được coi là có hiệu
quả khi IRR ≥ r
Tỷ số lợi ích
trên chi phí
(B/C)
N
t
t
t 0
N
t
t
t 0
B (1 i)
B/ C
C (1 i)

=

=
+
=
+


B/C>1: thu nhập
lớn hơn chi phí.
B/C=1: thu nhập
vừa đủ bù chi phí.
B/c<1: dự án bị lỗ
(Nguồn: T.s Từ Quang Phương, 2001,NXB Giáo dục, Quản lý dự án).
SVTH: Vũ Kiên Trung. Kế Hoạch
45A.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét