Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu chè ở tổng công ty chè việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu chè ở tổng công ty chè việt nam": http://123doc.vn/document/1047538-mot-so-giai-phap-day-manh-hoat-dong-xuat-khau-che-o-tong-cong-ty-che-viet-nam.htm


Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu chè ở Tổng Công ty
chè Việt Nam .
Mặc dù thời gian qua đã có những nhiều Đề tài khoa học, luận án, chuyên
đề nghiên cứu vấn đề này, nh ng chuyên đề này sẽ cố gắng phân tích một cách hệ
thống các vấn đề xuất khẩu chè và đa ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu chè của
Tổng Công ty Chè Việt Nam .
Chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm ba chơng:
Chơng I : Xuất khẩu và vai trò của hoạt động xuất khẩu chè đối với
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè.
Chơng II : Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu chè ở Tổng Công
ty chè Việt Nam .
Chơng III: Phơng hớng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu chè
trong thời gian tới.
Do hạn chế về thời gian cũng nh trình độ, nội dung chuyên đề chắc còn
nhiều thiếu sót, nhiều vấn đề tiếp tục phải nghiên cứu và trao đổi, tôi mong muốn
nhận đợc các ý kiến đóng góp.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

Chơng I
xuất khẩu và vai trò của hoạt động xuất khẩu chè
đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè
5
I. Khái niệm xuất khẩu và vai trò của nó đối với doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh chè
1. Khái niệm về xuất khẩu
Thơng mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng là quá trình trao đổi
hàng hoá giữa các nớc thông qua mua bán nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận.
Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh
sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những ngời sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt
của các quốc gia. Xuất khẩu là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nớc
tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất n-
ớc.
Ngày nay, xuất khẩu không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là
sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế. Vì vậy
phải coi trọng xuất khẩu cũng nh xem thơng mại quốc tế nh một tiền đề, một nhân
tố phát triển kinh tế trong nớc, trên cơ sở lựa chọn một cách tối u sự phân công lao
động và chuyên môn hoá quốc tế.
Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động ngoại thơng trong đó hàng hoá và
dịch vụ đợc bán, cung cấp cho nớc ngoài nhằm thu ngoại tệ. Đây là hoạt động kinh
doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, nó không chỉ là một hành vi buôn bán đơn lẻ
mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức bên trong và bên
ngoài nhằm mục đích lợi nhuận, thúc đẩy hàng hoá sản xuất phát triển, chuyển đổi
cơ cấu nền kinh tế, ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân. Mặt khác hoạt
động này dễ đem lại hiệu quả đột biến nhng có thể lại gây ra thiệt hại lớn vì nó
phải đối đầu với một hệ thông kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nớc
tham gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế đợc.
Hoạt động xuất khẩu đợc diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ
xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng đến xuất khẩu t liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho
đến các máy móc công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hàng hoá vô
hình. Tất cả đều nhằm mục tiêu đem lại lại lợi ích cho các quốc gia tham gia.
Hoạt động này diễn ra trong phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian.
Nó có thể diễn ra trong một ngày hay kéo dài hàng năm; có thể diễn ra trên phạm
vi lãnh thổ của một hay nhiều quốc gia khác nhau.
6
Nếu xét dới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là hình
thức cơ bản đầu tiên mà các doanh nghiệp áp dụng khi bớc vào lĩnh vực kinh doanh
quốc tế. Mọi Công ty luôn hớng tới xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ của
mình ra nớc ngoài. Do vậy mà xuất khẩu đợc xem nh chiến lợc kinh doanh quan
trọng của các Công ty.
Có nhiều nguyên nhân khuyến khích các Công ty thực hiện xuất khẩu trong
đó có thể là:
+ Sử dụng khả năng vợt trội (hoặc những lợi thế) của Công ty.
+ Giảm đợc chi phí cho một đơn vị sản phẩm do nâng cao khối lợng sản
xuất.
+ Nâng cao đợc lợi nhuận của Công ty.
+ Giảm đợc rủi ro do tối thiểu hoá sự dao động của nhu cầu.
Khi một thị trờng cha bị hạn chế bởi thuế quan, hạn ngạch, các quy định về
tiêu chuẩn kỹ thuật hay năng lực của các tổ chức kinh doanh quốc tế cha đủ thực hiện
các hình thức cao hơn thì hình thức xuất khẩu đợc chọn vì ở xuất khẩu lợng vốn ít
hơn, rủi ro thấp hơn và thu đợc hiệu quả kinh tế cao trong thời gian ngắn.
Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu trớc khi bớc vào
nghiên cứu thực hiện các nghiệp vụ phải nắm bắt đợc các thông tin về nhu cầu
hàng hoá, thị hiếu, tập quán tiêu dùng, khả năng mở rộng sản xuất, giá cả và xu h-
ớng biến động của nó. Những điều này phải luôn trở thành nếp thờng xuyên trong
t duy của mỗi nhà kinh doanh xuất khẩu, để có thể nắm bắt đợc các cơ hội kinh
doanh trong Thơng mại Quốc tế.
Nh vậy, hoạt động xuất khẩu phát triển chắc chắn sẽ góp phần to lớn trong
sự đi lên của đất nớc, hội nhập cùng vào nền kinh tế thế giới.
Để có thể hiểu rõ hơn về hoạt động xuất khẩu, ta có thể tham khảo một số t
tởng của các trờng phái sau
2. Các lý thuyết về hoạt động xuất khẩu
2.1. Lý thuyết của trờng phái trọng thơng
Lý thuyết trọng thơng là nền tảng cho các t duy kinh tế vào khoảng những
năm 1450 đến năm 1650. Lý thuyết này cho rằng sự phồn vinh của một quốc gia đợc
đo bằng bằng lợng tài sản mà quốc gia đó cất giữ và thờng đợc tính bằng vàng. Theo
lý thuyết này chính phủ nên xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu và nếu thành công họ sẽ
nhận đợc giá trị thặng d mậu dịch tính theo vàng từ các nớc khác.
7
Để một nớc có thể thặng d mậu dịch thì:
+ Thặng d (mậu dịch) thơng mại phải đợc thực hiện bởi các Công ty buôn
bán độc quyền của Nhà nớc, hoạt động nhập khẩu bị hạn chế và hoạt động xuất
khẩu đợc trợ cấp.
+ Các cờng quốc thực dân luôn cố tìm cách đạt đợc thặng d mậu dịch với
các thuộc địa của họ. Họ coi đây nh là một phơng tiện khác để có thu nhập. Đồng
thời để thực hiện điều này không chỉ bằng cách giữ độc quyền thơng mại thực dân
mà còn ngăn cản các nớc thuộc địa sản xuất. Do đó mà các nớc thuộc địa phải xuất
khẩu nguyên liệu thô, với giá trị kém hơn nhng lại nhập khẩu những sản phẩm có
giá trị cao.
Lý thuyết trọng thơng mang lại lợi ích cho các cờng quốc thực dân, vì thế
chính sách ngoại thơng của trờng phái này theo hớng:
- Giá trị xuất khẩu càng nhiều càng tốt, nghĩa là không những số lợng hàng
hoá xuất khẩu phải nhiều mà còn phải u tiên xuất khẩu những hàng hoá có giá trị
cao. Đồng thời đánh giá thấp việc xuất khẩu nguyên liệu và cố sử dụng nguyên liệu
để sản xuất trong nóc rồi đem xuất khẩu sản phẩm.
- Giữ nhập khẩu ở mức độ tối thiểu, giành u tiên cho nhập khẩu nguyên liệu,
hạn chế hoặc cấm nhập khẩu thành phẩm nhất là hàng xa xỉ.
- Khuyến khích chở hàng hoá bằng tàu của nớc mình vì nh vậy vừa bán đợc
hàng và tận dụng đợc cả những món lợi nhuận khác nh: cớc vận tải, phí bảo hiểm
ảnh hởng của lý thuyết trọng thơng đã bị mờ nhạt đi sau năm 1650. Lúc này
các cờng quốc thực dân thờng hạn chế sự phát triển công nghiệp của các nớc thuộc
địa của họ, nhng các thủ đoạn hợp pháp vẫn buộc chặt quan hệ thơng mại của các
nớc thuộc địa với chính quốc. Tuy nhiên quan điểm Nội thơng là hệ thống ống
dẫn, ngoại thơng là máy bơm. Muốn tăng của cải phải có ngoại thơng nhập dẫn của
cải qua nội thơng, cho đến nay vẫn luôn đợc các quốc gia khai thác và phát triển
một cách tối u nhất.
2.2. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Khác với trờng phái trọng thơng, AdamSmith cho rằng: Sự giàu có của mỗi
quốc gia phụ thuộc vào số hàng hoá và dịch vụ có sẵn hơn là phụ thuộc vào vàng.
8
Theo Adam Smith, nếu thơng mại không bị hạn chế theo nguyên tắc phân công
thì các quốc gia có lợi ích từ thơng mại quốc tế - nghĩa là mỗi quốc gia có lợi thế về
mặt điều kiện tự nhiên hay do trình độ sản xuất phát triển cao sẽ sản xuất ra những
sản phẩm mà mình có lợi thế với chi phí thấp hơn so với các nớc khác. Ông phê phán
sự phi lý của lý thuyết trọng thơng và chứng minh rằng: mậu dịch sẽ giúp cả hai bên
đều gia tăng tài sản. Theo ông, nếu mỗi quốc gia đều chuyên môn hoá vào những
ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, thì họ có thể sản xuất đợc những sản phẩm
có chi phí thấp hơn so với nớc khác để xuất khẩu, đồng thời lại nhập khẩu những hàng
hoá mà nớc này không sản xuất đợc hoặc sản xuất đợc nhng có chi phí cao hơn giá
nhập khẩu.
Nhờ sự chuyên môn hoá các nớc có thể gia tăng hiệu quả của mình bởi vì ngời
lao động sẽ lành nghề hơn do công việc đợc lặp lại nhiều lần, họ không mất thời gian
trong việc chuyển sản xuất sản phẩm này sang sản phẩm khác, do làm một công việc
lâu dài nên ngời lao động sẽ có nhiều kinh nghiệm, các sáng kiến và các phơng pháp
làm việc tốt hơn.
Mặc dù Adam Smith cho rằng, thị trờng chính là nơi quyết định nhng ông
vẫn nghĩ lợi thế của một nớc có thể là do lợi thế tự nhiên hay do nỗ lực cả nớc đó.
Lợi thế tự nhiên liên quan đến các điều kiện tự nhiên và khí hậu. Lợi thế do nỗ lực
là lợi thế có thể có đợc do sự phát triển của kỹ thuật và sự lành nghề.
Ngày nay ngời ta thờng buôn bán, trao đổi các loại hàng hoá đã đợc sản xuất
công phu hơn là các nông phẩm hay tài nguyên thiên nhiên nguyên khai thác hoặc sản
phẩm thô. Quá trình sản xuất ra loại hàng hoá này phần lớn phụ thuộc vào lợi thế do
nỗ lực, thờng là kỹ thuật chế biến và khả năng sản xuất các loại sản phẩm khác biệt
với những sản phẩm khác.
Lợi thế tuyệt đối so sánh số lợng của một loại sản phẩm đợc sản xuất ra ở hai
nớc khác nhau với cùng một điều kiện sản xuất. Giả sử Việt Nam có lợi thế tuyệt đối
so với Hàn Quốc về sản xuất gạo trong khi đó Hàn Quốc có lợi thế tuyệt đối về sản
xuất vải. Đó là lợi thế tuyệt đối tơng hỗ, trong trờng hợp nếu mỗi nớc chuyên môn
hoá loại sản phẩm mà nớc đó có lợi thế tuyệt đối thì tổng sản phẩm của cả hai nớc có
thể tăng lên.
2.3. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Theo lý thuyết này, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc
gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể
tham gia vào thơng mại quốc tế để tạo ra lợi ích. Nói cách khác trong điểm bất lợi
9
vẫn có những điểm thuận lợi để khai thác khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu,
những quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra các loại hàng hoá sẽ có thể
chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác
và nhập về những hàng hoá mà việc sản xuất ra nó gặp rất nhiều khó khăn và bất
lợi. Từ đó tiết kiệm đợc nguồn lực của mình và thúc đẩy sản xuất trong nớc. Ta có
thể giải thích rõ điều này thông qua ví dụ sau:
Giả sử 2 quốc gia Việt Nam và Mỹ có năng lực sản xuất vải và máy tính nh
sau:
Ta thấy cả hai quốc gia đều sản xuất hai mặt hàng vải và máy tính. Tuy
nhiên nếu phân tích cụ thể thì ta sẽ thấy năng suất lao động của ngành chế tạo máy
tính của Mỹ gấp 6 lần của Việt Nam trong khi đó ngành dệt chỉ gấp 2 lần. Nh vậy,
giữa chế tạo máy tính và sản xuất vải thì Mĩ có lợi thế tơng đối trong việc sản xuất
máy tính còn Việt Nam có lợi thế tơng đối trong việc sản xuất vải. Theo quy luật
của lợi thế so sánh hai quốc gia sẽ cùng có lợi nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá
sản xuất loại sản phẩm mình có lợi thế so sánh hơn sau đó tiến hành trao đổi một
phần sản phẩm cho nhau.
Giả sử tỉ lệ trao đổi là 6 máy tính lấy 6 m vải thì Mỹ vẫn có lợi 2 m vải tức là
đã tiết kiệm đợc 1/2 giờ công còn Việt Nam tiết kiệm đợc 3 giờ công do có lợi 3
máy tính.
Nh vậy qua ví dụ trên ta thấy đợc lợi ích của việc trao đổi sản phẩm giữa các
quốc gia thông qua việc xuất nhập khẩu hàng hoá. Sự chuyên môn hoá sản xuất
những sản phẩm mà mình có lợi thế để xuất khẩu và nhập khẩu những sản phẩm bất
lợi hơn sẽ giúp cho việc sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất nguồn lực của mỗi nớc. Bên
cạnh đó còn làm tăng sản lợng và chất lợng sản phẩm, tạo điều kiện mở rộng khả
năng tiêu dùng của mỗi quốc gia. Vì vậy đây chính là tính tất yếu của việc mở rộng
hoạt động xuất nhập khẩu này.
10
Quốc Gia
Mặt hàng
Mỹ Việt Nam
Vải ( m/ 1 giờ công )
Máy tính (cái/ giờ
công)
4
6
2
1
3. Vai trò hoạt động xuất khẩu chè
3.1. Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung
Với xu thế ngày nay, trong sự khắc nghiệt của nền kinh tế thị trờng và nền
kinh tế Thế giới đã khẳng định: Một đất nớc có đợc thiên nhiên u đãi đến đâu đi
nữa, nhng nếu không hội nhập vào thơng mại quốc tế, thì nền kinh tế tự cung tự
cấp đó sẽ bị kiệt quệ, yếu kém, không tài nào có thể vực dậy đợc, không theo kịp
đợc xu hớng phát triển của nền kinh tế quốc tế và sẽ bị tụt hậu. Vì thế ở Đại hội VI
Trung ơng Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng và Nhà nớc ta đã nhận thức một cách
sâu sắc là: Chỉ có mở rộng ngoại thơng, hội nhập thơng mại quốc tế mới cho phép
chúng ta đánh giá đúng khả năng trình độ, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Vì vậy xuất khẩu đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt
động xuất khẩu chè cũng là sự đóng góp không nhỏ góp phần vào hoạt động xuất
khẩu Việt Nam .
- Xuất khẩu chè tạo nguồn vốn không nhỏ cho nhập khẩu thiết bị, công nghệ
phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bớc đi thích hợp nhất là phải công
nghiệp hoá, hiện đại hoá để khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu chậm phát triển.
Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá đòi hỏi phải có một số lợng vốn rất lớn để nhập
khẩu máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến.
Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khẩu, một nớc có thể sử dụng nguồn
vốn huy động chính nh sau:
+ Đầu t nớc ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ.
+ Thu từ các hoạt động du lich, dịch vụ thu ngoại tệ trong nớc.
+ Thu từ xuất khẩu.
Tầm quan trọng của vốn đầu t nớc ngoài thì không ai có thể phủ nhận đợc,
song việc huy động chúng không phải dễ dàng. Sử dụng nguồn vốn này, các nớc đi
vay thờng phải chịu thiệt thòi, phải chịu các o ép và sẽ phải trả những khoản nợ sau
sau này.
Thực tế trong những năm vừa qua xuất khẩu chè của Việt Nam đã mang lại
hàng chục triệu USD cho quốc gia. Một phần của lợng tiền này đợc đầu t vào quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, phần còn lại đợc đầu t tiếp cho quá trình
tái sản xuất chè. Bởi vậy, xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất. Xuất khẩu tạo tiền
đề cho nhập khẩu, quyết định đến quy mô, tốc độ tăng trởng của hoạt động nhập
khẩu. ở một số nớc, một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng kém phát
triển là do thiếu tiềm năng về vốn do đó nguồn vốn từ bên ngoài đợc coi là nguồn chủ
11
yếu, song mọi cơ hội đầu t vay nợ và viện trợ của nớc ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu
t và ngời cho vay thấy đợc khả năng sản xuất và xuất khẩu - nguồn vốn duy nhất để
trả nợ thành hiện thực.
- Xuất khẩu chè thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Dới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã, đang
và sẽ thay đổi mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia
từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế:
Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa.
Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản cha đủ
tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp
trong một phạm vi nhỏ và tăng trởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội
phát triển. Thực tế trong những năm vừa qua thì số lợng chè sản xuất ra trong nớc đã
phần nào đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng trong nớc, ngoài ra còn khoảng 27% sản l-
ợng sản xuất để phục vụ cho xuất khẩu.
Thứ hai, coi thị trờng thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu.
Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất,
thể hiện:
+ Xuất khẩu chè tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển.
Chẳng hạn, khi sản xuất chè xuất khẩu phát triển thì nó cần rất nhiều sự hỗ trợ
của các ngành khác nh : công nghiệp chế tạo máy móc, công nghiệp điện, giao thông
vận tải và nó cũng đỏi hỏi chính sự phát triển của các ngành này
+ Xuất khẩu chè tạo điều kiện mở rộng thị trờng sản phẩm chè, góp phần ổn
định sản xuất, tạo ra lợi thế kinh tế nhờ quy mô.
+ Xuất khẩu chè tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất chè, tăng thêm về nguồn nguyên liệu cho sản xuất và chế biến, mở rộng khả
năng tiêu dùng của một quốc gia. Ngoại thơng cho phép một nớc có thể tiêu dùng tất
cả các mặt hàng với số lợng lớn hơn nhiều lần giới hạn sản xuất của quốc gia đó.
+ Xuất khẩu chè còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cờng hiệu quả
sản xuất chè của Việt Nam trên thị trờng thế giới. Nó cho phép chuyên môn hoá sản
xuất chè phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Ngày nay đối với việc sản xuất
những sản phẩm công nghệ cao thì : mỗi một loại sản phẩm ngời ta nghiên cứu thử
nghiệm ở nớc thứ nhất, chế tạo ở nớc thứ hai, lắp ráp ở nớc thứ ba, tiêu thụ ở nớc thứ
12
t và thanh toán thực hiện ở nớc thứ năm. Nh vậy, hàng hoá sản xuất ra ở một nớc và
tiêu thụ ở nhiều nớc khác nhau cho thấy tác động ngợc trở lại của hoạt động xuất
khẩu đối với việc chuyên môn hoá sản xuất, tạo điều kiện cho chuyên môn hoá sâu.
Đối với việc sản xuất chè xuất khẩu ở Việt Nam để đợc thị trờng thế giới chấp nhận
thì đòi hỏi cần có một sự chuyên môn hoá không về mặt sản xuất mà còn có chuyên
môn hoá về thơng mại cho sản phẩm chè.
Với đặc điểm quan trọng là tiền tệ đợc sử dụng làm phơng tiện thanh toán,
xuất khẩu chè cũng góp một phần làm tăng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam. Đặc biệt
là đối với Việt Nam một nớc đang phát triển, đồng tiền không có khả năng chuyển
đổi thì ngoại tệ có đợc nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà
về cung cầu ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trởng và phát
triển kinh tế.
- Xuất khẩu chè có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm,
xoá đói giảm nghèo cải thiện đời sống nhân dân tại các vùng đặc biệt là ngời lao
động ở trung du, miền núi
Những năm gần đây với việc triển khai giao đất và khoán vờn chè cho ngời
lao động theo nghị định 01 - CP của chính phủ cùng với những giải pháp của
ngành chè Việt Nam để giải quyết đủ việc làm cho cán bộ công nhân viên, cùng
với cơ chế và phơng thức mua chè thuận lợi cho ngời lao động đã tạo động lực
khuyến khích ngời lao động phấn khởi chủ động đầu t thâm canh vờn chè để đạt
năng suất và chất lợng cao, ở trung du và miền núi ngời dân có tập quán trồng lúa
nơng, sẫn Với thu nhập lúa n ơng trung bình 2-3 triệu/ha, còn trồng 1 ha chè trên
vùng đồi núi khô cằn thu đợc 10-12 triệu /ha, sau khi đã trừ đi các chi phí đầu t ban
đầu 1 ha chè thu hoạch đợc bằng 3-4 lần lúa nơng. Nhờ vậy đời sống ngời làm chè
đợc cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân toàn ngành năm 1996 chỉ đạt 250.000
đồng/ngời/tháng, năm 1997 đã tăng lên 350.000đồng /ngời /tháng, năm 1998 là
400.000 đồng /ngời /tháng, năm 1999 đã đạt năm 500.000 đồng /ngời/ tháng, năm
2000 là 550.000 đồng /ngời /tháng. Trong sản xuất nông nghiệp thu nhập bình
quân năm 1997 đạt 400-500 nghìn đồng / ngời/tháng, năm 1998 là 500-600 nghìn
đồng /ngời/ tháng, cho đến năm 1999 đã đạt 700-800 nghìn đồng /ngời/ tháng, năm
2000 đạt 850-900 nghìn đồng/ngời/tháng. Một số đơn vị sản xuất chè có thu nhập
rất cao nh :Trần Phú, Nghĩa Lộ, Yên Bái, Phú Sơn, Mộc Châu.
Để tăng thêm thu nhập cải thiện ngời làm chè, các hộ làm chè đã kết hợp
làm kinh tế gia đình theo mô hình VAC gắn liền kinh tế vờn nhà, vờn đồi, đem lại
13
nguồn thu nhập đáng kể góp phần quan trọng để ổn định đời sống nhất là những
khi việc sản xuất kinh doanh của xí nghiệp gặp khó khăn. Nhiều gia đình ở Công
ty chè Sông Cầu, Phú Sơn, Trần Phú , đạt mức thu nhập kinh tế gia đình (VAC)
từ 18-223 triệu đồng /năm/hộ , đặc biệt là Công ty chè Mộc Châu vùng đặc sản
cây mơ, cây mận có giá trị kinh tế cao hàng năm có tới 30-40% số hộ gia đình có
thu nhập từ cây mơ, cây mận đạt từ 12-18 triệu đồng/ năm, có gia đình thu nhập
đạt 40-50 triệu đồng /năm .Nhờ có thu nhập từ các cây trồng khác và làm kinh tế
phụ đã giúp cho cây chè phát triển ổn định, lâu dài và tạo thành một vùng sản xuất
hàng hoá lớn. Do sản xuất và kinh doanh có hiệu quả mà đời sống vật chất và văn
hoá của ngời làm chè đợc nâng lên. Theo báo cáo năm 1999 của Tổng Công ty chè
thì có khoảng 30% hộ khá, giàu, 55% số hộ trung bình và số hộ nghèo đói là 15%,
cho đến năm 2000 con số này lần lợt là 33% , 60%, 7%. Đây là dấu hiệu tích cực
đối với ngành chè và ngời lao động.
- Xuất khẩu chè là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan
hệ kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có mối tác động qua lại phụ
thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu chè là một loại hoạt động chủ yếu cơ bản và
là hình thức ban đầu của hoạt động kinh tế đối ngoại, từ đó nó thúc đẩy các mối
quan hệ khác phát triển theo nh du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc
tế Ngợc lại, sự phát triển của các ngành này lại là những điều kiện tiền đề cho
hoạt động xuất khẩu phát triển.
Xuất khẩu nói riêng và ngoại thơng nói chung dẫn tới sự thay đổi của những
loại hàng hoá có thể tiêu dùng đợc trong nền kinh tế bằng hai cách:
+ Cho phép khối lợng hàng tiêu dùng khác với số hàng hoá đợc sản xuất ra.
+ Cho phép một sự thay đổi có lợi cho phù hợp với các đặc điểm của sản xuất.
+ Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các tác
động của xuất khẩu đối với các quốc gia này không giống nhau.
- Xuất khẩu chè góp một phần tăng GDP, GNP.
Thật vậy, năm 1998 sản lợng chè búp của Việt Nam đạt 53 ngàn tấn, xuất
khẩu 33,5 ngàn tấn, thu về 48,9 triệu USD, năm 1999 sản lợng thu đợc là 56 ngàn
tấn, xuất khẩu 31,8 ngàn tấn và thu về 43 triệu USD, năm 2000 xuất khẩu 34,6
ngàn tấn, thu về 48,65 triệu USD, năm 2001 xuất khẩu 35 ngàn tấn và thu về 50
triệu USD
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét