LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Đề cương giáo trình môn kế toán tài chính - GS.TS Ngô Thế Chi, TS Trương Thị Thủy doc": http://123doc.vn/document/1049824-tai-lieu-de-cuong-giao-trinh-mon-ke-toan-tai-chinh-gs-ts-ngo-the-chi-ts-truong-thi-thuy-doc.htm
4.11. Kế toán ký quỹ, ký cược dài hạn
Chương 5: Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
(Đ/c Thuý)
5.1. Nhiệm vụ kế toán
5.2. Hình thức tiền lương, quỹ tiền lương và các khoản trích theo lương
5.3. Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
5.3.4 Sổ kế toán
Chương 6: Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
(Đ/c Việt)
6.1. Nhiệm vụ kế toán
6.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm
6.3. Phương pháp kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
6.3.1 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo phương pháp KKTX
6.3.2 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo phương pháp KKĐK
6.3. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố
Chương 7: Kế toán bán hàng, xác định kết quả kinh doanh
(Đ/c Công)
7.1. Nhiệm vụ của kế toán
7.2. Kế toán thành phẩm, hàng hóa
7.2.1Đánh giá thành phẩm, hàng hoá
7.2.2 Hạch toán chi tiết thành phẩm, hàng hoá
7.2.3 Kế toán tổng hợp thành phẩm, hàng hoá
7.3. Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, và các khoản giảm doanh
thu bán hàng
7.3.1 Kế toán doanh thu bán hàng và cuung cấp dịch vụ
7.3.2 Kế toán các khoản làm giảm doanh thu
7.4 Kế toán chi phí và doanh thu tài chính
7.5. Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
5
7.6. Kế toán chi phí và thu nhâp khác
7.7. Kế toán kết quả kinh doanh và phân phối kết quả kinh doanh
Chương 8: Kế toán nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu
(Đ/c Nhạc)
8.1. Nhiệm vụ kế toán
8.2. Kế toán các khoản nợ phải trả
8.3. Kế toán nguồn vốn chủ sở hữu
Chương 9: Đặc điểm kế toán chi phí, doanh thu và kết quả trong các doanh
nghiệp xây lắpvà thương mại dịch vụ
9.1. Đặc điểm kế toán chi phí, doanh thu và kết quả trong các doanh nghiệp xây
lắp (Đ/c Hoà)
9.2. Đặc điểm kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ(Đ/c Tỵ)
9.2.1Đặc điểm kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh nội thương
9.2.2 Đặc điểm kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh ngoại thương
9.2.3 Đặc điểm kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh bưu chính viễn
thông
9.2.4 Đặc điểm kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh du lịch
Chương 10: Báo cáo tài chính
(Đ/c Công: 10.1- 10.8; Đ/c Thuỷ+đ/c Liên: 10.10)
10.1. ý nghĩa , yêu cầu, nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính
10.2. Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp
10.3. Bảng cân đối kế toán
10.3.1 Nội dung, kết cấu, tác dụng BCĐKT
10.3.2 Cơ sở số liệu
10.3.3 Phương pháp lập
10.4. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
10.5. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
10.5.1 Phương pháp lập trực tiếp
10.5.2 Phương pháp lập gián tiếp
6
10.6. Thuyết minh báo cáo tài chính
10.7.Báo cáo tài chính tổng hợp
10.8.Báo cáo tài chính giữa niên độ
10.9. Báo cáo tài chính hợp nhất
10.9.1 Bảng cân đối kế toán hợp nhât
10.9.2 Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất
10.9.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
10.9.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
10.10Một số vấn đề khác liên quan đến thông tin trên báo cáo tài chính
7
CHƯƠNG I
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Vai trò, nhiệm vụ kế toán tài chính trong doanh nghiệp
1.1.1. Vai trò kế toán tài chính trong công tác quản lý
Kế toán là công cụ phục vụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt động quản lý và xuất hiện cùng
với sự hình thành đời sống kinh tế xã hội loài người.
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, kế toán - một
môn khoa học cũng đã có sự thay đổi, phát triển không ngừng về nội dung, phương pháp để
đáp ứng được yêu cầu quản lý ngày càng cao của nền sản xuất xã hội.
Trong các tài liệu, sách kinh tế có thể gặp những định nghĩa, nhận thức về kế toán ở những
phạm vi, góc độ khác nhau.
Giáo sư, tiến sỹ Robet Anthony - một nhà nghiên cứu lý luận kinh tế nổi tiếng của trường Đại
học Harward của Mỹ cho rằng “ Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh”.
Giáo sư, tiến sỹ Grene Allen Gohlke của Viện đại học Wisconsin lại định
nghĩa lại định nghĩa: “Kế toán là một khoa học liên quan đến việc ghi nhận, phân
loại, tóm tắt và giải thích các nghiệp vụ tài chính của một tổ chức, giúp cho Ban
Giám đốc có thể căn cứ vào đó để ra các quyết định kinh tế”.
Trong cuốn sách “Nguyên lý kế toán Mỹ”, Ronnanld.j.Thacker nêu quan điểm của mình về kế
toán xuất phát từ việc cung cấp thông tin cho công tác quản lý. Theo Ronald.j.Thacker thì “Kế
toán là một phương pháp cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý có hiệu quả và để đánh giá
hoạt động của mọi tổ chức”.
Các tổ chức kế toán, kiểm toán quốc tế cũng nêu ra những khái niệm về kế toán như sau:
Theo uỷ ban thực hành Kiểm toán Quốc tế (International Auditing Practices
Committee) thì “một hệ thống kế toán là hàng loạt các loại các nhiệm vụ ở một
doanh nghiệp mà nhờ hệ thống này các nghiệp vụ được xử lý như một phương
tiện duy trì các ghi chép tài chính”.
Khi định nghĩa về kế toán, Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) cho rằng :
“Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp theo một cách riêng có
bằng những khoản tiền, các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một
phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó”.
Trong điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước ban hành theo QĐ số 25-HĐBT
(nay là Chính phủ) cũng đã khẳng định: “Kế toán là công cụ quan trọng để tính
toán, xây dựng và kiểm tra việc chấp hành quản lý các hoạt động, tính toán kinh
8
tế và kiểm tra việc bảo vệ, sử dụng tài sản, vật tư tiền vốn nhằm đảm bảo việc chủ
động trong sản xuất, kinh doanh và chủ động tài chính cho tổ chức, xí nghiệp ”.
Trong Luật kế toán có nêu: “Kế toán là việc thu thập xử lý, kiểm tra, phân
tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời
gian bảo đảm.
Các khái niệm về kế toán nêu trên, cho ta thấy được những nhận thức, quan
niệm về kế toán ở những phạm vi, góc độ khác nhau nhưng đều gắn kế toán với
việc phục vụ cho công tác quản lý. Do vậy, kế toán là công cụ không thể thiếu
được trong hệ công cụ quản lý kinh tế, kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và
cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản, các hoạt động
kinh tế tài chính trong các đơn vị, nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh
tế, tài chính của đơn vị.
Kế toán có thể được phân loại theo các tiêu thức khác nhau, giúp cho chúng ta
nhận thức được nội dung, mục đích, phạm vi của từng loại kế toán.
Điều 10 của luật kế toán có quy định về kế toán tài chính, kế toán quản trị,
kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết.
Tại khoản 1 của điều 10 có quy định: “ Kế toán ở đơn vị kế toán bao gồm:
kế toán tài chính và kế toán quản trị”.
- Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp
thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng sử dụng thông tin
của đơn vị kế toán
- Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin
kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội
bộ đơn vị kế toán.
Cũng tại điều 10, khoản 2 của Luật có quy định: “ Khi thực hiện công việc
kế toán tài chính và kế toán quản trị đơn vị kế toán phải thực hiện kế toán tổng
hợp và kế toán chi tiết”
- Kế toán tổng hợp phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin tổng
quát về hoạt động kinh tế và tài chính của đơn vị. Kế toán tổng hợp sử dụng đơn
vị tiền tệ để phản ánh tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, tình hình và kết
quả hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán.
- Kế toán chi tiết phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin chi
tiết bằng đơn vị tiền tệ, đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao động theo từng đối
tượng kế toán cụ thể trong đơn vị kế toán. Kế toán chi tiết minh hoạ cho kế toán
9
tổng hợp. Số liệu kế toán chi tiết phải khớp đúng với số liệu kế toán tổng hợp
trong một kỳ kế toán.
Sản phẩm cuối cùng của kế toán tài chính là hệ thống báo cáo tài chính,
trong đó chứa đựng những thông tin cần thiết cho các đối tượng sử dụng đề ra
được các quyết định quản lý phù hợp với mục đích sử dụng thông tin của mình.
Các đối tượng sử dụng thông tin do kế toán tài chính xử lý, tổng hợp cung
cấp có thể chia thành:
- Các nhà quản lý doanh nghiệp;
- Những đối tượng có lợi ích trực tiếp;
- Những đối tượng có lợi ích gián tiếp.
Các nhà quản lý doanh nghiệp : Chủ doanh nghiệp, Ban giám đốc, Hội
đồng quản trị, trong quá trình ra các quyết định quản lý, họ sẽ nghiên cứu những
thông tin trình bày trên các báo cáo kế toán để tìm ra những câu trả lời cho những
câu hỏi khác nhau:
- Năng lực sản xuất của đơn vị như thế nào ?
- Đơn vị SXKD có lãi hay không?
- Tình hình công nợ và khả năng thanh toán công nợ?
- Hàng hoá tồn kho nhiều hay ít?
- Quy mô sản xuất nên thu hẹp hay mở rộng?
- Có nên chuyển hướng kinh doanh hay không?
- Có thể tăng giá trị sản phẩm hay sản xuất giới thiệu sản phẩm mới hay
không ?
Như vậy, thông qua các thông tin trên báo cáo tài chính cung cấp, các nhà
quản lý doanh nghiệp biết được tình hình sử dụng các loại tài sản, lao động vật tư
tiền vốn, tình hình chi phí và kết quả hoạt động SXKD nhằm phục vụ cho việc
điều hành, quản lý kịp thời cũng như việc phân tích, đánh giá tình hình, kết quả
hoạt động SXKD, tính hiệu quả, đúng đắn của những giải pháp quản lý đã đề ra
và thực hiện trong quá trình SXKD nhằm phục vụ cho việc điều hành, quản lý
kịp thời cũng như việc phân tích, đánh giá tình hình, kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp từ đó mà đề ra các biện pháp, quyết định phù hợp
về đường hướng phát triển của doanh nghiệp.
Những đối tượng có lợi ích trực tiếp đối với thông tin do kế toán cung cấp
là các chủ đầu tư, chủ nợ, các cổ đông, những đối tác liên doanh.Căn cứ vào
10
thông tin kế toán của doanh nghiệp họ có thể ra được những quyết định đầu tư,
cho vay, góp vốn nhiều hay ít, đầu tư vào lĩnh vực ngành nghề nào, chính sách
đầu tư ra sao ? Các chủ nợ cũng ra được các quyết định cho vay phù hợp với đặc
điểm, tình hình và sự phát triển của doanh nghiệp thông qua các thông tin trên báo
cáo kế toán của doanh nghiệp, họ quyết định cho vay nhiều hay ít, vay với điều
kiện, lãi suất như thế nào, các chủ hàng có bán hàng cho DN theo phương thức trả
chậm hay không?
Những đối tượng có lợi ích gián tiếp tới thông tin kế toán, đó là các cơ quan
quản lý chức năng: Thuế, tài chính, thống kê chính phủ Các cơ quan quản lý
chức năng của Nhà nước dựa vào thông tin do kế toán tài chính cung cấp để kiểm
tra, giám sát hoạt động SXKD của các doanh nghiệp, để kiểm tra việc chấp hành,
thực hiện các chính sách, chế độ về quản lý kinh tế tài chính, để quản lý và điều
hành thống nhất toàn bộ nền KTQD. Cũng trên cơ sở các thông tin kế toán tài
chính của các doanh nghiệp mà các cơ quan quản lý chức năng, các cơ quan ban
hành chính sách, chế độ tổng hợp nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách chế độ
quản lý hiện hành và đề ra những chính sách, chế độ thích hợp, nhằm thực hiện
các kế hoạch, đường lối phát triển nhanh chóng và toàn diện nền kinh tế quốc dân.
Qua những điều phân tích trên đây, ta thấy mục đích của kế toán tài chính
là thu thập xử lý, cung cấp thông tin cần thiết cho các đối tượng sử dụng khác
nhau, với mục đích khác nhau, để ra được các quyết định quản lý phù hợp. Điều
này nói lên vai trò quan trọng của kế toán tài chính trong công tác quản lý vi mô
và vĩ mô của Nhà nước.
1.1.2 Nội dung và yêu cầu của kế toán tài chính
1.1.2.1 Nội dung công tác kế toán tài chính
Đối tượng của kế toán trong mọi loại hình doanh nghiệp với các lĩnh vực
hoạt động và hình thức sở hữu khác nhau đều là tài sản, sự vận động của tài sản
và những quan hệ có tính pháp lý trong quá trình hoạt động SXKD.
Trong quá trình hoạt động SXKD, sự vận động của tài sản hình thành nên
các nghiệp vụ kinh tế tài chính rất phong phú, đa dạng với nội dung, mức độ, tính
chất phức tạp khác nhau. Điều này, đòi hỏi kế toán phản ánh, ghi chép, xử lý,
phân loại và tổng hợp một cách kịp thời, đầy đủ, toàn diện và có hệ thống theo các
nguyên tắc, chuẩn mực và những phương pháp khoa học của kế toán tài chính.
Tuy các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh đa dạng, khác nhau, song căn
cứ vào đặc điểm hình thành và sự vận động của tài sản cũng như nội dung, tính
11
chất cùng loại của các nghiệp vụ kinh tế - tài chính, toàn bộ công tác kế toán tài
chính trong doanh nghiệp bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Kế toán vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu;
- Kế toán vật tư hàng hoá;
- Kế toán tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn;
- Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương;
- Ké toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm;
- Kết quả bán hàng, xác định kết quả và phân phối kết quả;
- Kế toán các khoản nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu;
- Lập hệ thống báo cáo tài chính.
Những nội dung trên của kế toán tài chính được Nhà nước quy định thống
nhất từ việc lập chứng từ các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh, cũng như nội
dung, phương pháp ghi chép trên các tài khoản kế toán, sổ sách kế toán tổng hợp
và việc lập hệ thống báo cáo tài chính phục vụ cho công tác điều hành, quản lý
thống nhất trong phạm vi toàn bộ nền KTQD.
Các nội dung kế toán nêu trên được nhìn nhận trong mối quan hệ chặt chẽ
với quá trình ghi sổ kế toán theo qúa trình hoạt động SXKD và tái sản xuất ở các
doanh nghiệp. Còn chương II của luật Kế toán lại quy định nội dung công tác kế
toán bao gồm:
1. Chứng từ kế toán
2. Tài khoản kế toán và sổ kế toán
3. Báo cáo tài chính
4. Kiểm tra kế toán
5. Kiểm kê tài sản, bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán
6. Công việc kế toán trong trường hợp đơn vị kế toán chia, tách, hợp nhất,
sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản.
1.1.2.2 Yêu cầu của kế toán tài chính
Để phát huy vai trò quan trọng trong công tác quản lý, cung cấp thông tin
hữu ích cho các đối tượng sử dụng, kế toán phải đảm bảo được những yêu cầu
quy định tại điều 6 Luật kế toán, gồm 6 yêu cầu sau:
1. Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kế
toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính.
12
2. Phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tin, số liệu kế toán.
3. Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu kế toán.
4. Phản ánh trung thực hiện trạng bản chất sự việc nội dung và giá trị của
nghiệp vụ kinh tế tài chính.
5. Thông tin, số liệu kế toán phải liên tục
6. Phân loại, xắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, hệ thống.
Nội dung của điều 6 Luật Kế toán cũng thể hiện về các yêu cầu cơ bản của kế
toán quy định tại CMKTVN số 01 “ Chuẩn mực chung “ đó là : trung thực, khách
quan; đầy đủ; kịp thời; dễ hiểu và có thể so sánh được.
1.1.3 Nhiệm vụ kế toán tài chính doanh nghiệp
Điều 5 luật Kế toán quy định các nhiệm vụ của kế toán, bao gồm:
1. Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung
công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán.
2. Kiểm tra, giám sát các khoản thu chi tài chính các nghĩa vụ thu, nộp,
thanh toán nợ; Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản;
Phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán.
3. Phân tích thông tin, số liệu kế toán, tham mưu, đề xuất các giải pháp
phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán.
4. Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các nhiệm vụ quy định cho kế toán nói chung, KTTC doanh
nghiệp xác định các nhiệm vụ cụ thể phù hợp với chức năng, yêu cầu của KTTC trong
doanh nghiệp.
1.2 Những khái niệm, nguyên tắc kế toán tài chính
Chúng ta đã đề cập đến mục đích, vai trò của kế toán trong việc cung cấp
thông tin cho các đối tượng sử dụng khác nhau với những mục đích khác nhau để
ra được các quyết định phù hợp với yêu cầu quản lý của từng đối tượng.
Mặc dù mỗi quốc gia có hệ thống kế toán nói chung và chế độ kế toán tài
chính nói riêng để phục vụ yêu cầu quản lý nền KTQD phù hợp với cơ chế quản
lý của quốc gia đó. Mặc dù tồn tại các mô hình kế toán khác nhau và những quan
niệm khác nhau về kế toán. Song, để thực sự là công cụ quản lý với chức năng
cung cấp, kiểm tra thông tin kinh tế - tài chính trong điều kiện nền kinh tế “mở”
của các quốc gia, và sự hội nhập của các hệ thống kế toán thì việc ghi chép, phản
ánh, xử lý, cung cấp thông tin kế toán cần phải tuân theo những khái niệm,
13
nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về kế
toán trong điều kiện phát triển kinh tế cũng như yêu cầu và trình độ quản lý của
mỗi quốc gia.
Vì lý do trên, Liên đoàn Kế toán Quốc tế (Internation Federation of
Accountant - Viết tắt là IFAC) đã nghiên cứu và ban hành nhiều tài liệu về kế
toán, đặc biệt là các khái niệm, nguyên tắc kế toán được thừa nhận và các chuẩn
mực quốc tế về kế toán, giúp cho các tổ chức kế toán của các quốc gia dựa vào đó
để xây dựng, thiết kế và ban hành các hệ thống, chế độ kế toán phù hợp. Những
khái niệm nguyên tắc kế toán được thừa nhận là những chuẩn mực chung, là kim
chỉ nam cho việc đánh giá, ghi chép, phân loại, tổng hợp và báo cáo cung cấp
thông tin về hoạt động SXKD của các doanh nghiệp.
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (chuẩn mực chung) quy định các
nguyên tắc kế toán cơ bản dưới đây:
1. Cơ sở dồn tích :
Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ
phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào
thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài
chính được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp
trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
2. Hoạt động liên tục
Kế toán ở các đơn vị là việc ghi chép, phản ánh tình hình hoạt động của
doanh nghiệp cho dù khả năng hoạt động của doanh nghiệp có thể là:
- Tiếp tục hoạt động:
- Có thể ngừng hoạt động.
Tuy vậy, theo khái niệm hoạt động liên tục thì công việc kế toán được đặt
ra trong điều kiện giả thiết rằng đơn vị sẽ tiếp tục hoạt động vô thời hạn hoặc ít
nhất còn hoạt động trong thời gian 1 năm nữa.
Khái niệm hoạt động liên tục có liên quan đến việc lập hệ thống báo cáo tài
chính. Vì giả thiết đơn vị tiếp tục hoạt động, nên khi lập báo cáo tài chính người
ta không quan tâm đến giá thị trường của các loại tài sản, vốn, công nợ mặc dù
trên thực tế giá thị trường có thể thay đổi, mà chỉ phản ánh tài sản của đơn vị theo
trị giá vốn - hay còn gọi là “giá phí”. Hơn nữa, vì quan niệm doanh nghiệp còn
tiếp tục hoạt động nên việc bán đi những tài sản dùng cho hoạt động SXKD của
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét