LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nâng cao vai trò của hệ thống kiểm tra kiểm soát đối với công tác tín dụng tại pvfc": http://123doc.vn/document/1053316-nang-cao-vai-tro-cua-he-thong-kiem-tra-kiem-soat-doi-voi-cong-tac-tin-dung-tai-pvfc.htm
Bước 4. Đề xuất kiến nghị.
Đây là bước cuối cùng, kiểm tra viên sẽ đưa ra đề xuất kiến nghị với
ban lãnh đạo công ty.
1.1.2 Kiểm tra kiểm soát tín dụng.
1.1.2.1 Khái niệm về tín dụng, chất lượng tín dụng và các chỉ tiêu đánh giá
chất lượng tín dụng trong các tổ chức tín dụng.
* Khái niệm tín dụng.
Cùng với sự phát triển của trao đổi và mua bán hàng hoá, tín dụng là
một quan hệ kinh tế đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử loài người. Ban đầu khi
mới xuất hiện tín dụng chỉ là một hình thức tín dụng thương mại xuất phát từ
quan hệ mua bán chịu những hàng hoá đơn giản giữa một số người với nhau,
trải qua một thời gian dài tín dụng thương mại đã phát triển ở mức độ cao
hơn, tuy bản chất không thay đổi nhưng về hình thức và nội dung của quan hệ
tín dụng thì đa dạng và phong phú hơn rất nhiều. Điều đó tạo điều kiện cho
lượng vốn trên thị trường lưu thông mạnh hơn do các doanh nghiệp vừa đáp
ứng được nhu cầu về vốn lại vừa bán được hàng thông qua tín dụng thương
mại, song mặt khác tín dụng thương mại chỉ có thể thực hiện được giữa
những người có quan hệ giao dịch thường xuyên trong phạm vi buôn bán chịu
hàng hoá đã thực hiện với nhau hơn nữa vốn vay lại thường là một bộ phận
nằm trong chu kỳ của người cho vay không thể kéo dài thêm thời hạn. Do vậy
có thể nói tín dụng thương mại bị hạn chế bởi phạm vi quy mô, thời hạn cũng
như chiều hướng của khoản tín dụng. Điều hạn chế này sẽ được giải quyết
bằng tín dụng ngân hàng - một hình thức phát triển cao của tín dụng nói
chung, về bản chất tín dụng ngân hàng vẫn chuyển vốn (dưới dạng tiền tệ hay
hiện vật) từ người này (người cho vay) tới người khác (người vay) trên cơ sở
hoàn trả và thu lãi sau một thời hạn nhất định nhưng khác ở chỗ ngân hàng là
một tổ chức kinh doanh tiền tệ và nó đóng vai trò là một trung gian tài chính,
nó vừa là người cho vay vừa là người đi vay đối với tất cả các thành phần
trong nền kinh tế do đó dịch vụ tín dụng mà nó đưa ra là hoàn hảo và đa dạng
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
nhất nó không bị lệ thuộc vào phạm vi, quy mô và chu kỳ kinh doanh của bất
kỳ một doanh nghiệp đơn lẻ nào, đồng thời chiều hướng của quan hệ tín dụng
cũng không còn là vấn đề gây cản trở cho sự huy động vốn của các doanh
nghiệp. Đó là tín dụng ngân hàng nói chung – nó gồm cả quan hệ vay và cho
vay, còn khi chúng ta gắn tín dụng vào hoạt động một ngân hàng cụ thể thì tín
dụng ngân hàng thường chỉ được hiểu là quan hệ cho vay và nó là một trong
những khoản mục bên phía tài sản trong bảng cân đối kế toán của mỗi ngân
hàng. Trong mỗi ngân hàng khoản mục tín dụng này thường bao gồm các
hình thức như: cho vay, cho thuê, bảo lãnh, hay chiết khấu các giấy tờ có giá
vv…các khoản tín dụng này có thể có thời hạn ngắn hay dài tuỳ theo sự sắp
xếp của mỗi ngân hàng và nhu cầu của khách hàng.
* Chất lượng tín dụng và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:
Thông thường tín dụng luôn là một khoản mục chiếm tỉ trọng lớn và
mang lại nguồn thu cũng lớn trong cơ cấu tổng tài sản và tổng nguồn thu của
mỗi ngân hàng. Nhưng đi đôi với nguồn thu đó tín dụng cũng mang lại rất
nhiều rủi ro, do vậy chất lượng tín dụng ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh
doanh của một ngân hàng. Một quan hệ tín dụng được gọi là có chất lượng
phải được xét trên hai khía cạnh:
Thứ nhất đối với ngân hàng chất lượng tín dụng có thể được hiểu đơn
giản là hiệu quả của việc cho vay mang lại, tức là khả năng ngân hàng thu
được cả gốc và lãi của khoản tín dụng khi đến hạn từ phía khách hàng mà vẫn
đảm bảo sự an toàn và phát triển bền vững cho ngân hàng.
Thứ hai đối với khách hàng là các doanh nghiệp hay tổ chức cá nhân
thì chất lượng tín dụng được hiểu là khả năng mở rộng tài trợ (cho vay, cho
thuê, bảo lãnh…) của ngân hàng phù hợp và đáp ứng được với nhu cầu của
doanh nghiệp (nhu cầu về qui mô, thời hạn, lãi suất, cách thức, thủ tục cấp
vốn, Hai khía cạnh này có quan hệ chặt chẽ với nhau, để dễ hiểu ta giả sử
nếu khách hàng được ngân hàng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về vốn lại được
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
ngân hàng hướng dẫn, giám sát sử dụng vốn đúng mục đích, sản xuất kinh
doanh có hiệu quả sẽ trả được gốc và lãi cho ngân hàng điều này không
những tốt cho các ngân hàng mà còn tốt cho sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế nói chung. Đây chỉ là cách hiểu chung nhất khái quát nhất về chất
lượng tín dụng, còn để đi sâu và đánh giá được chất lượng tín dụng chúng ta
phải xem xét một số chỉ tiêu đánh giá sau:
* Thứ nhất các chỉ tiêu định tính:
Chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với các khách hàng
có thể được đánh giá bằng khả năng tăng cường mở rộng tín dụng và mức độ
đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp (tổ chức, cá nhân). Một khoản tín
dụng được coi là có chất lượng tốt khi ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu của họ.
Đáp ứng tốt có nghĩa là khi khách hàng cần vốn với số lượng, thời hạn, xác
định ngân hàng phải đáp ứng đầy đủ đồng thời các thủ tục phải chính xác,
khoa học, nhanh chóng, và thuận tiện, lãi xuất phải phù hợp, tương xứng với
rủi ro của khoản tín dụng và đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường.
Ngoài ra chất lượng tín dụng của một khoản tín dụng còn thể hiện ở kết
quả hoạt động kinh doanh, cũng như uy tín, thương hiệu của tổ chức tín dụng
và các khách hàng tham gia quan hệ tín dụng đó. Một mặt, nếu một ngân hàng
được đánh giá là có chất lượng tín dụng tốt thì đồng nghĩa với hoạt động tín
dụng của ngân hàng đó phải bù đắp được chi phí và mang lại thu nhập cho
ngân hàng và nếu một ngân hàng được coi là có uy tín lâu năm và đã mất
nhiều công sức để xây dựng một thương hiệu riêng cho mình thì chắc chắn
chất lượng tín dụng của ngân hàng đó cũng khó có thể không tốt. Bởi lẽ uy tín
và thương hiệu chính là giá trị do khách hàng cảm nhận và mang lại cho ngân
hàng qua những lần sử dụng dịch vụ của ngân hàng, đồng thời những giá trị
về uy tín và thương hiệu đó cũng chính là những cam kết của ngân hàng về
chất lượng của dịch vụ mà ngân hàng đưa ra đối với khách hàng. Mặt khác
với một khách hàng (doanh nghiệp) có uy tín và có mối quan hệ tốt với ngân
hàng thì khả năng thu được nợ của ngân hàng đối với khách hàng đó là lớn
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
hơn các khách hàng khác thậm chí đối với khách hàng này nhiều khi ngân
hàng không cần đòi hỏi thế chấp hay thủ tục như thông lệ mà vẫn bảo đảm
khách hàng sẽ trả được nợ - tức là chất lượng tín dụng đối với những khách
hàng này là tốt.
* Thứ hai về các chỉ tiêu định lượng:
Những chỉ tiêu định tính thường chỉ đánh giá một cách chung và khái
quát chất lượng của tín dụng, còn để đánh giá được một cách cụ thể và chính
xác chất lượng tín dụng chúng ta hãy xem xét một cách tổng hợp các chỉ tiêu
định lượng về phía các doanh nghiệp và ngân hàng sau:
Đối với Doanh nghiệp:
+ Chỉ tiêu đánh giá tài sản của khách hàng: Nhóm chỉ tiêu này gồm
ngân quỹ (tiền gửi ngân hàng, tiền mặt trong két, các khoản phải thu ); các
chứng khoán có giá( trái phiếu, cổ phiếu, ); hàng hoá trong kho; hay các tài
sản cố định như nhà xưởng, máy móc… Sở dĩ ngân hàng phải nghiên cứu
những chỉ tiêu này bởi những thông tin về tài sản cho thấy qui mô, chất lượng
của tài sản, khả năng quản lý của khách hàng rất quan trọng đối với quyết
định cho vay. Hơn nữa chính những tài sản này tuỳ theo tính thanh khoản mỗi
loại mà chúng sẽ tạo nên khả năng thu hồi nợ cho ngân hàng khi khách hàng
mất khả năng sinh lời hay nói cách khác đó chính là những tài sản đảm bảo
cho khoản vay - nhằm phòng ngừa rủi ro làm nên chất lượng của tín dụng.
+ Các chỉ tiêu về lợi nhuận của doanh nghiệp: Lợi nhuận chính là
nguồn trả lãi cho ngân hàng do đó khi xem xét đánh giá các khoản tín dụng
ngân hàng cũng cần phải xem xét kỹ tiêu chí này. Thường lợi nhuận của
doanh nghiệp được xem xét bởi ba chỉ tiêu: Đó là tỉ suất lợi nhuận vốn = Lợi
nhuận/Vốn sử dụng bình quân trong kỳ; tỷ suất lợi nhuận giá thành = lợi
nhuận/giá thành sản phẩm trong kỳ; và cuối cùng là tỷ suất lợi nhuận doanh
thu bán hàng = lợi nhuận/doanh thu trong kỳ. Ba chỉ tiêu trên đều phân tích
về lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng mỗi chỉ tiêu chỉ phân tích trên một khía
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
cạnh của lợi nhuận do đó tuỳ vào điều kiện của doanh nghiệp( qui mô, thị
trường đầu ra, đầu vào, công nghệ…) mà ta phải kết hợp cả 3 chỉ tiêu trên
một cách hợp lý thì mới đánh giá được tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp
từ đó mới biết được khả năng trả lãi của doanh nghiệp .nhưng nhìn chung nếu
trong cùng một điều kiện (thị trường đầu ra, đầu vào, công nghệ, qui mô )
nếu doanh nghiệp nào có các chỉ tiêu trên đều cao thì khả năng trả nợ cao hơn
tức là chất lượng của khoản tín dụng cho doanh nghiệp đó cao hơn.
Đối với Ngân hàng, Tổ chức Tín dụng:
+ Chỉ tiêu về doanh số cho vay trong kỳ và tốc độ tăng trưởng doanh số
cho vay của ngân hàng đối với khách hàng. Doanh số cho vay trong kỳ đối
khách hàng là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho khách hàng đó vay trong kỳ.
nó thể hiện quy mô tuyệt đối của hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với
khách hàng. Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay lại thể hiện khả
năng mỏ rộng quy mô cho vay tới khách hàng qua các thời kỳ. Đây là số
tương đối ,nếu dương thể hiện quy mô cho vay tăng lên, âm thể hiện quy mô
cho vay đã giảm qua các thời kỳ. để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân
hàng ở mức độ nào thì phải xem xét đánh giá nhiều mặt nhưng nếu doanh số
cho vay lớn cùng tốc độ tăng trưởng doanh số cao thì có thể coi là một chất
lượng tín dụng tốt.
+ Chỉ tiêu về dư nợ của khách hàng: Dư nợ của khách hàng là số tiền
mà ngân hàng còn đang cho khách hàng vay ở một thời điểm nhất định,
thường là ở thời điểm cuối kỳ. Đây là số tuyệt đối thể hiện quy mô cho vay
tới các khách hàng tại một thời điểm nhất định. Số dư nợ này cao hay thấp
chưa thể khẳng định được chất lượng tín dụng tốt hay xấu, nó còn phụ thuộc
vào khả năng trả được nợ của khách hàng trong tương lai và nhiều yếu tố
khác, nhưng theo qui định chung thì số dư nợ của một khách hàng không
vượt quá 25% vốn điều lệ của ngân hàng. Điều này chứng tỏ số dư nợ của
khách hàng lớn đến một mức nào đó sẽ gây nguy hiểm cho ngân hàng tức là
chất lượng tín dụng có chiều hướng xấu đi.
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
+ Chỉ tiêu doanh số thu nợ từ khách hàng: Là số tiền khách hàng đã
trả ngân hàng trong kỳ từ các khoản vay. Hiển nhiên chỉ tiêu này phản ánh
hiệu quả của việc cho vay của ngân hàng đồng thời cũng phản ánh khả năng
kinh doanh của khách hàng do đó chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện chất
lượng tín dụng tốt.
+ Chỉ tiêu nợ quá hạn. Nợ quá hạn là khoản nợ gốc hay lãi mà khách
hàng không trả được cho ngân hàng khi đến hạn.
Chỉ tiêu này được biểu hiện bằng tỉ lệ: Nợ quá hạn/Tổng dư nợ
Rõ ràng nợ quá hạn thể hiện chất lượng tín dụng thấp nhưng đối với
một ngân hàng nợ quá hạn là không thể tránh khỏi, tuy nhiên với mỗi loại
hình vay thường mang các đặc điểm khác nhau như cho vay không có tài sản
đảm bảo, cho vay cầm cố, thế chấp bằng tài sản đảm bảo là các bất động sản,
động sản …. nên mức độ rủi ro đối với mội loại hinh cũng khác nhau. Thông
thường cho vay cầm cố tài sản là hình thức mặc dù dựa trên các điều khoản
về kỳ hạn trả nợ trên hợp đồng là quá hạn, tuy nhiên đối với các tài sản đảm
bào này, ngân hàng vẫn có thể thanh lý dưới hình thức phát mại để thu hồi
vốn, vì vậy trên một phưong diện nào đó, vốn của ngân hàng vẫn được đảm
bảo. Vì vậy tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ được coi là chấp nhận được nằm
trong khoảng dưới 5%.
+ Chỉ tiêu nợ khó đòi: Là khoản nợ quá hạn một kỳ gia hạn nợ, mà khả
năng trả được nợ của doanh nghiệp kém, tài sản thế chấp nhỏ… Về số tương
đối người ta hay dùng tỉ lệ: Nợ khó đòi / Tổng dư nợ. Cả hai chỉ tiêu này đều
phản ánh chất lượng tín dụng xấu nên khi kiểm tra, kiểm soát tín dụng cần
chú ý và nên giảm thiểu loại tín dụng này.
+ Ngoài ra còn một số chỉ tiêu đánh giá chung về phía ngân hàng như:
Doanh thu từ cho vay/tổng doanh thu; doanh thu từ cho vay/trên tổng chi phí
vốn vay; thu từ lãi/lợi nhuận sau thuế; thường các chỉ tiêu này cao cũng thể
hiện chất lượng tín dụng tốt. Và một số chỉ tiêu khác về tín dụng như: Tổng
số dư tín dụng / tổng tài sản; Tổng số dư tín dụng/VCSH; những chỉ tiêu này
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
cũng thể hiện khả năng phát triển dịch vụ tín dụng của tổ chức nhưng đồng
thời cũng phải phải đảm bảo được yêu cầu của NHNN về an toàn hoạt động
tín dụng.
1.1.2.2 Kiểm tra kiểm soát tín dụng:
* Khái niệm
Kiểm tra kiểm soát tín dụng trong các tổ chức tín dụng nói chung chỉ là
một trong những khâu của quá trình kiểm tra kiểm soát do hệ thống kiểm tra
kiểm soát nội bộ tiến hành nên sẽ không có một khái niệm chính xác và hoàn
chỉnh vể kiểm tra kiểm soát tín dụng. Do đó ta có thể hiểu một cách đơn giản
kiểm tra kiểm soát tín dụng là một hoạt động của công tác kiểm tra kiểm soát
nội bộ trong đó kiểm tra viên dùng phương pháp nghiệp vụ thích hợp nhằm
kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện ra những sai sót, vi phạm trong quá trình
thực hiện quy trình tín dụng từ đó đưa ra những đề xuất, ý kiến nhằm nâng
cao chất lượng công tác tín dụng cho tổ chức và đảm bảo thực hiện những
mục tiêu đề ra của tổ chức.
* Quy trình chung.
Như chúng ta đã nói ở trên kiểm tra kiểm soát tín dụng là một phần
hoạt động của hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ do vậy quy trình thực hiện
của nó không đi ngược lại quy trình kiểm tra kiểm soát nội bộ. Chỉ khác ở
chỗ đối tượng thực hiện của quá trình kiểm tra kiểm soát ở đây là nghiệp vụ
tín dụng, cụ thể hơn là việc phải xem xét các hoạt động liên quan đến nghiệp
vụ tín dụng có thực hiện đúng với quy trình đã đề ra hay không, có đúng với
các quy chế của NHNN và quy định của tổ chức hay không. Về thứ tự các
bước của kiểm tra kiểm soát tín dụng cũng giống như quy trình của kiểm tra
kiểm soát nội bộ, tuy nhiên trong mỗi bước sẽ có các khác biệt cụ thể:
Bước 1. Chuẩn bị kiểm tra.
1.1 Khảo sát và thu thập thông tin:
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
Ở bước này phải nắm được các quy trình quy chế liên quan đến hoạt
động nghiệp vụ tín dụng, phải biết các văn bản pháp quy mới nhất liên quan
tới hoạt động tín dụng trong các tổ chức tín dụng. đồng thời tìm hiểu thông
tin từ các tài liệu có liên quan tới tín dụng của tổ chức, kể cả các báo cáo lần
trước của tổ chức.
1.2 Lập đề cương kiểm tra:
Dựa vào các thông tin thu thập được trong thời gian khảo sát, nhóm
kiểm tra xây dựng đề cương kiểm tra theo Quy định riêng của tổ chức.
1.3 Tổ chức thông báo chương trình kiểm tra:
- Sau khi Đề cương kiểm tra đã được Giám đốc phê duyệt, Phòng
KT&KSNB có trách nhiệm lập Thông báo chương trình kiểm tra theo quy
định của tổ chức.
1.4 Chuẩn bị điều kiện cần thiết cho kiểm tra:
Bước này yêu cầu phải chuẩn bị được mọi điều kiện cần thiết cho cuộc
kiểm tra để tạo điều kiện tiền đề cho tiếp tục vào bước sau không bị thiếu sót
và diễn ra một cách thuận lợi.
Bước 2. Thực hiện kiểm tra.
2.1 Thu thập bằng chứng kiểm tra:
- Sử dụng phương pháp đối chiếu so sánh, xác minh: Sử dụng số liệu
do Phòng được kiểm tra cung cấp để so sánh với cân đối của Phòng Kế toán,
để kiểm tra việc cập nhật số liệu của các Phòng tín dụng có được thường
xuyên, kịp thời và chính xác không.
- Kiểm tra thông qua việc quan sát, phỏng vấn cán bộ tín dụng: Khi có
điểm nào chưa rõ trong quá trình kiểm tra có thể phỏng vấn cán bộ tín dụng.
- Có thể kiểm tra toàn bộ hồ sơ hoặc chọn mẫu trọng yếu: tuỳ theo thời
gian, yêu cầu của từng đợt kiểm tra.
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
2.2 Ghi chép và tổng hợp kết quả kiểm tra:
Kiểm tra chủ thể vay vốn:
- Kiểm tra hồ sơ pháp lý (tính đầy đủ của các tài liệu cung cấp theo
quy định Công ty: đăng ký kinh doanh, hồ sơ pháp lý ….)
- Kiểm tra tổng thể dư nợ đối với từng pháp nhân, thể nhân vay vốn để đối
chiếu với mức phân cấp, mức phán quyết và tổng dư cho vay 1 khách hàng so với
vốn tự có (có bị vượt quá 15% vốn tự có của Tổ chức, nếu bị vượt quá thì nguyên
nhân là gì) và có kiến nghị xử lý kịp thời. Kiểm tra đối tượng vay vốn có thuộc
đối tượng không được phép hoặc hạn chế vay vốn không?
Kiểm tra hồ sơ khoản vay
Kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của phương án vay vốn:
Phương án kinh doanh, dự án, luận chứng kinh tế kỹ thuật được cấp có
thẩm quyền phê duyệt và dự án đó có tính khả thi không?. Đối với những dự
án XDCB, đầu tư trung và dài hạn cần lưu ý đến cấp có thẩm quyền phê
duyệt.
Kiểm tra trong phương án trả nợ gốc và lãi khách hàng sẽ trả bằng
nguồn nào? Khách hàng phải chứng minh rằng sẽ trả được nợ vay (cả gốc và
lãi) bằng nguồn mà khách hàng đã nêu trong phương án trả nợ.
Kiểm tra hồ sơ cho vay:
- Kiểm tra các tài liệu liên quan đến việc đảm bảo tín dụng:
- Kiểm tra việc áp dụng lãi suất cho vay, loại cho vay, hạn mức tín
dụng, thời hạn cho vay.
- Kiểm tra nguồn vốn cho vay,
- Thời hạn cho vay có phù hợp với phương án kinh doanh nguồn vốn
cho vay,
- Kiểm tra hạn mức cho vay: Căn cứ quy định của chính phủ, theo quy
định riêng của tổ chức.
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài chính
- Kiểm tra quá trình thu nợ thu lãi, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ,
kiểm tra sau khi giải ngân, kiểm tra công tác thu nợ thu lãi, thủ tục chuyển nợ
quá hạn, kiểm tra việc gia hạn nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ.
* Kiểm tra việc lưu trữ hồ sơ:
Việc lưu trữ hồ sơ có khoa học, đảm bảo tính độc lập, bảo mật, dễ tìm dễ lấy
* Đánh giá các bằng chứng:
- Kiểm tra đối chiếu với văn bản chế độ và các quy định hiện hành:
Xác định rõ những việc làm đúng và chưa đúng so với quy định; rút ra
nguyên nhân chủ quan, khách quan
- Tổng hợp, lựa chọn thông tin, xác định nguyên nhân và mức độ liên
quan của từng nguyên nhân.
2.3 Lập Biên bản kiểm tra :
Biên bản kiểm tra sau khi được nhóm kiểm tra lập sẽ được gửi tới lãnh
đạo Phòng kèm theo các bằng chứng kiểm tra để cho ý kiến chỉ đạo (nếu có)
trước khi gửi các đơn vị được kiểm tra. Biên bản kiểm tra sẽ do trưởng nhóm
kiểm tra ký cùng với lãnh đạo đơn vị được kiểm tra.
Bước 3. Báo cáo kết quả kiểm tra.
Sau khi thống nhất được biên bản kiểm tra, kèm theo giải trình của các
đơn vị được kiểm tra (nếu có). Đơn vị kiểm tra sẽ lập báo cáo gửi Ban Giám
đốc. Nội dung báo cáo nêu các kiến nghị và xử lý.
Bước 4. Kết thúc kiểm tra.
Bước này khi kiểm tra và báo cáo kết quả xong các kiểm tra viên đề
xuất ý kiến, kiến nghị và ban Giám đốc.
1.2 Sự cần thiết phải kiểm tra kiểm soát tín dụng trong các TCTD.
1.2.1 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường.
* Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế nói chung: Trong quá trình
hội nhập (WTO, AFTA, ) và phát triển kinh tế đất nước, có thể nói tín dụng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét