Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

phân tích tài chính của công ty tnhh tm-sx thuốc thú y gấu vàng trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009.


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phân tích tài chính của công ty tnhh tm-sx thuốc thú y gấu vàng trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009.": http://123doc.vn/document/1044645-phan-tich-tai-chinh-cua-cong-ty-tnhh-tm-sx-thuoc-thu-y-gau-vang-trong-giai-doan-tu-nam-2007-den-nam-2009.htm


Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Tụ
các đối tượng về nhiều khía cạnh khác nhau của tài chính doanh nghiệp để phục vụ
cho những mục đích của mình.
• Đối với nhà quản trị của doanh nghiệp: phân tích tài chính nhằm mục tiêu:
- Tạo các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh quá khứ, tiến
hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài
chính của doanh nghiệp.
- Định hướng các quyết định của Ban giám đốc: đầu tư dự án, phân chia lợi tức,
cổ phần…
- Là cơ sở cho các dự toán tài chính: dự toán tiền, dự toán kết quả hoạt động
kinh doanh…
- Là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý.
• Đối với các chủ nợ ( ngân hàng, nhà cung cấp, chủ vay…): mục đích của
các chủ nợ là mong đợi các khoản nợ sẽ thanh toán và nhận được một khoản
lợi từ khoản cho vay đó. Do đó, họ rất quan tâm đến khả năng trả nợ của
doanh nghiệp, họ rất chú ý đến tình hình và khả năng sinh lời để đánh giá
đơn vị có khả năng trả nợ được hay không khi ra quyết định bán chịu hoặc
cho doanh nghiệp vay .
• Đối với các nhà đầu tư trong tương lai: điều chú trọng cơ bản là lợi nhuận
hiện tại và lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai của công ty mà họ quyết định
đầu tư cũng như sự ổn định của lợi nhuận theo thời gian. Vì vậy, họ cần phân
tích thông tin tài chính của doanh nghiệp qua các năm, các thời kỳ để phần
nào đánh giá được tiềm lực của doanh nghiệp trước khi ra quyết định đầu tư.
• Đối với các cơ quan chức năng: như cơ quan thuế, thông qua thông tin trên
báo cáo tài chính xác định các khoản nghĩa vụ đơn vị phải thực hiện đối với
Nhà Nước, cơ quan thống kê tổng hợp phân tích tình hình số liệu thông kê,
chỉ số thông kê…
1.1.4. Ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính giúp cho các đối tượng sử dụng có thông tin cần thiết để ra
các quyết định:
• Quyết định đầu tư và cung cấp tín dụng.
Cổ đông, người có ý định đầu tư cần thông tin lợi nhuận, trả lãi mỗi cổ phiếu,
SVTH : Quách Thị Quỳnh Trâm Trang
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Tụ
tình hình tài chính, dự báo lợi nhuận tương lai của công ty để quyết định đầu tư.
Tổ chức tài chính tín dụng cần thông tin cơ cấu vốn, khả năng trả tiền lãi định kỳ,
trả nợ vay, triển vọng, rủi ro để quyết định cung cấp tín dụng.
Nhà cung cấp nguyên liệu cần thông tin khả năng trả nợ ngắn hạn của khách
hàng để quyết định bán chịu.
• Quyết định quản trị.
Nhà quản trị công ty cần thông tin tài chính, khả năng trả nợ, sinh lời, nhận biết
lợi nhuận, khó khăn liên quan đến kinh doanh, sử dụng tài sản, điều hành nợ - vốn
để có quyết định kinh doanh có hiệu quả cao.
• Quyết định điều tiết.
Cơ quan Thuế cần thông tin kết quả kinh doanh, tình hình tài chính để kiểm tra
việc nộp thuế, xây dựng chính sách thuế.
Cơ quan Kinh tế cần thông tin kết quả kinh doanh, tình hình tài chính…để xây
dựng chính sách mở rộng hay hạn chế đầu tư.
Cơ quan Chứng khoán cần thông tin kết quả kinh doanh, tình hình tài chính để
có những quyết định hạn chế thiệt hại cho đầu tư…
1.2. Nội dung và phương hướng phân tích tình hình tài chính.
 Nội dung phân tích tài chính.
Nội dung chủ yếu của phân tích tài chính là đi từ khái quát đến cụ thể bao gồm
các nội dung sau:
- Đánh giá khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua sự phân bổ cơ cấu
tài sản và nguồn vốn
- Phân tích về khả năng thanh toán các khoản nợ phát sinh tại doanh nghiệp
- Phân tích tình hình luân chuyển vốn
- Phân tích khả năng sinh lời.
 Phương pháp phân tích tài chính.
 Phân tích theo chiều ngang.
Điểm khởi đầu chung cho việc nghiên cứu các báo cáo tài chính đó là phân
tích theo chiều ngang, bằng cách tính số tiền chênh lệch và tỷ lệ % chênh lệch
từ năm này so với năm trước. Tỷ lệ % chênh lệch phải được tính toán để cho
SVTH : Quách Thị Quỳnh Trâm Trang
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Tụ
thấy quy mô thay đổi tương quan ra sao so với quy mô của số tiền liên quan. Số
tiền chênh lệch phản ánh quy mô biến động, tỷ lệ chênh lệch phản ánh tốc độ
biến động. Phân tích theo thời gian giúp đánh giá khái quát tình hình biến động
của các chỉ tiêu tài chính, từ đó đánh giá tình hình tài chính. Đánh giá đi từ
tổng quát đến chi tiết, sau khi đánh giá ta liên kết các thông tin để đánh giá khả
năng tiềm tàng và rủi ro, giúp nhận ra các khoản mục nào có biến động cần tập
trung phân tích xác định nguyên nhân
 Phân tích theo chiều dọc ( phân tích theo quy mô chung).
Trong phân tích theo chiều dọc, tỷ lệ được sử dụng để chỉ mối quan hệ của
các bộ phận khác nhau so với tổng số trong một báo cáo. Con số tổng cộng của
báo cáo sẽ được đặt là 100% và từng phần của báo cáo sẽ được tính tỷ lệ % với
con số đó. Sử dụng phương pháp phân tích theo chiều dọc có ích trong việc so
sánh tầm quan trọng của thành phần nào đó trong hoạt động kinh doanh. Nó
cũng có ích trong việc chỉ ra những thay đổi quan trọng về kết cấu của một năm
so với năm tiếp theo ở báo cáo quy mô chung.
 Phân tích theo xu hướng.
Một biến thể của phân tích theo chiều ngang là phân tích xu hướng. Trong
phân tích theo xu hướng, các tỷ lệ chênh lệch được tính cho nhiều năm thay vì
hai năm. Phân tích theo xu hướng quan trọng do với cách nhìn rộng của phương
pháp này, nó có thể chỉ ra những thay đổi cơ bản về bản chất của hoạt động
kinh doanh, giúp cung cấp những thông tin rất có ích cho những nhà quản trị
doanh nghiệp và nhà đầu tư.
 Phân tích các chỉ số chủ yếu.
Phân tích các chỉ số là một phương pháp quan trọng để thấy được các mối quan
hệ có ý nghĩa giữa hai thành phần của một báo cáo tài chính. Để đạt được hiệu quả
cao nhất, khi nghiên cứu tỷ số cũng phải bao gồm việc nghiên cứu các dữ liệu đằng
sau các dữ liệu đó. Các tỷ số là những hướng dẫn hoặc những phân tích có ích trong
việc đánh giá tình hình tài chính, các hoạt động của một doanh nghiệp và trong việc
so sánh chúng với những kết quả của các năm trước hoặc các doanh nghiệp khác.
Mục đích chính của việc phân tích tỷ số là chỉ ra những lĩnh vực cần được nghiên
cứu nhiều hơn. Để có thể nhìn rõ được thực trạng tài chính của doanh nghiệp, khi sử
SVTH : Quách Thị Quỳnh Trâm Trang
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Tụ
dụng phân tích các chỉ số để phân tích báo cáo tài chính cần gắn với những hiểu biết
chung về doanh nghiệp và môi trường của nó. Sau đây là nhóm chỉ số tài chính chủ
yếu được sử dụng phân tích tài chính:
- Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính
- Nhóm chỉ tiêu về tình hình thanh toán và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng luân chuyển vốn của doanh nghiệp
- Nhóm chỉ tiêu về tỷ số sinh lời
1.2.1. Phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán.
 Phân tích các khoản phải thu.
Để phân tích trước hết phải:
- Tính chỉ tiêu tỉ lệ giữ tổng giá trị các khoản phải thu và tổng nguồn vốn. Chỉ
tiêu này phản ánh với tổng nguồn vốn được huy động thì có bao nhiên phần trăm
vốn thực chất không tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh mức độ vốn
bị chiếm dụng của doanh nghiệp. Nếu tỉ lệ này tăng lên đó là biểu hiện không tốt.
Khoản phải thu trên
tổng nguồn vốn
=
Tổng các khoản phải thu
x 100%
Tổng nguồn vốn
- So sánh tổng giá trị các khoản phải thu và giá trị từng khoản phải thu giữa
cuối năm so với đầu năm, để thấy được sự tiến bộ trong việc thu hồi công nợ. Đi
sâu vào tình hình thực tế để tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng tình hình thu hồi công
nợ, ảnh hưởng sự biến động các khoản phải thu và tính hợp lý của nó.

Phân tích các khoản phải trả:
Để phân tích các khoản phải trả trước hết:
- Tính ra chỉ tiêu tỷ số giữa tổng các khoản phải trả trên tổng tài sản (tỷ số nợ).
Chỉ tiêu này phản ảnh mức độ nợ trong tổng tài sản doanh nghiệp từ đó cho thấy
trong tổng tài sản, sở hữu thực chất của doanh nghiệp là bao nhiêu? Nếu tỷ số nợ
tăng lên mức nợ cần thanh toán tăng điều này ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
của doanh nghiệp.
Khoản phải trả trên = Tổng các khoản phải trả x 100%
SVTH : Quách Thị Quỳnh Trâm Trang
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Tụ
tổng tài sản
Tổng tài sản
- So sánh tổng số nợ phải trả, từng các khoản nợ phải trả đầu năm và cuối năm
để thấy khái quát tình hình chi trả công nợ. Đi sâu vào tình hình thực tế để tìm ra
những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình chi trả công nợ.

Vốn luân chuyển:
Vốn luân chuyển là phần chênh lệch giữa Tài sản ngắn hạn với Nợ ngắn hạn.
Chỉ tiêu này phản ánh phần tài sản được tài trợ từ nguồn vốn cơ bản, lâu dài mà
không đòi hỏi phải chi trả trong thời gian ngắn hạn. Vốn luân chuyển càng lớn phản
ánh khả năng chi trả càng cao đối với nợ ngắn hạn khi đến hạn.

Vốn luân chuyển = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn
Tuy nhiên vốn luân chuyển lớn cũng chưa đảm bảo cho nợ được trả khi đến hạn.
Bởi vì sự gia tăng của vốn luân chuyển do tài sản dự trữ tăng vì nguyên nhân đầu tư
quá mức, thành phẩm hàng hóa mất phẩm chất, không tiêu thụ được hoặc các khoản
phải thu chậm thu hồi…, trường hợp này vốn luân chuyển cao nhưng chưa chắc
đảm bảo trả nợ đến hạn. Vì vậy để phân tích khả năng thanh toán một cách đầy đủ
thì kết hợp thêm các chỉ tiêu khác như: hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn, hệ số
khả năng thanh toán nhanh…

Hệ số thanh toán ngắn hạn:
Hệ số thanh toán ngắn hạn cho thấy công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển
đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số thanh
toán ngắn hạn
=
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Nếu hệ số thanh toán ngắn hạn giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng
là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra.
SVTH : Quách Thị Quỳnh Trâm Trang
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Tụ
Nếu hệ số thanh toán ngắn hạn cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sàng
thanh toán các khoản nợ. Qua thực tiễn, người ta cho rằng hệ số này là tốt nhất
( nhưng cũng không phải đúng trong mọi loại hình kinh doanh của doanh nghiệp).
Tuy nhiên, nếu hệ số thanh toán ngắn hạn quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động
vì công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn hay nói cách khác việc quản lý
tàn sản ngắn hạn không hiệu quả ( ví dụ: có quá nhiều tiền nhàn rỗi, nợ phải đòi,
hàng tồn kho ứ đọng). Một công ty nếu dự trữ nhiền hàng tồn kho thì sẽ có hệ số
thanh toán ngắn hạn cao, mà ta đã biết hàng tồn kho là tài sản khó hoán chuyển
thành tiền, nhất là hàng tồn kho ứ đọng, kém phẩm chất. Vì thế trong nhiều trường
hợp, hệ số thanh toán hiện hành không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của
công ty. Do đó để đánh giá khả năng thanh toán ta kết hợp sử dụng chỉ tiêu hệ số
khả năng thanh toán nhanh.
 Hệ số thanh toán nhanh:
Hệ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những tài sản ngắn hạn có thể
nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng được gọi là “Tài sản có tính
thanh khoản”, “tài sản có tính thanh khoản” là tài sản ngắn hạn trừ hàng tồn kho.
Hệ số thanh
toán nhanh
=
Tiền + Đầu tư ngắn hạn + Các khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh là tiêu chuẩn đánh giá khắt khe hơn về khả năng thanh
toán. Nó phản ánh nếu không bán hết hàng tồn kho thì khả năng thanh toán của
doanh nghiệp ra sao? Bởi vì hàng tồn kho không phải là nguồn tiền mặt tức thời đáp
ứng ngay cho việc thanh toán.
Hệ số thanh toán nhanh trong nhiều doanh nghiệp trên 1 được xem là hợp lý.
 Nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu:
Tăng số nợ phải trả trong cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp là có rủi ro.
Doanh nghiệp có nghĩa vụ pháp lý trong việc chi trả lãi vay đúng kỳ và trả nợ
gốc khi đáo hạn.
Nghĩa vụ này có hiệu lực bất kể mức lợi nhuận của doanh nghiệp là bao nhiêu.
Nếu không thanh toán nợ phải trả, doanh nghiệp có thể buộc phá sản. Ngược lại, cổ
SVTH : Quách Thị Quỳnh Trâm Trang
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Tụ
tức và những khoản phân chia khác cho cổ đông chỉ được thực hiện khi hội đồng
quản trị công bố. Tỷ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cho thấy số tài sản của
doanh nghiệp được tài trợ từ các chủ nợ trong mối quan hệ với số được tài trợ từ
chủ sở hữu. Tỷ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu càng cao, doanh nghiệp có nghĩa
vụ cố định càng lớn, và do đó càng lâm vào tình thế rủi ro hơn.
Tỷ số này được tính như sau:
Nợ phải trả trên nguồn
vốn chủ sở hữu
=
Tổng nợ phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu
 Hệ số thanh toán lãi vay:
Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định và chúng ta muốn biết công ty sẵn
sàng trả lãi đến mức nào. Cụ thể hơn chúng ta muốn biết rằng liệu số vốn đi vay có
thể sử dụng tốt đến mức nào, có thể đem lại khoản lợi nhuận bao nhiêu và đủ bù đắp
lãi vay hay không. Hệ số này dùng để đo mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng
vốn để đảm bảo trả lãi vay hàng năm như thế nào. Nếu công ty quá yếu về mặt này,
các chủ nợ có thể đi đến kiện tụng và tuyên bố phá sản.
Hệ số thanh toán
lãi tiền vay
=
EBIT
Chi phí lãi vay
Trong đó: EBIT : Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Trong công thức trên, phần tử số phản ánh số tiền mà công ty có thể được sử
dụng để trả lãi vay trong năm. Phần mẫu số là lãi vay, bao gồm tiền lãi trả cho các
khoản vay ngắn hạn và dài hạn kể cả lãi do phát hành trái phiếu.
Thông thường, hệ số thanh toán lãi tiền vay > 2 được xem là thích hợp để đảm
bảo trả nợ dài hạn, tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào xu hướng thu nhập lâu dài
của doanh nghiệp.
1.2.2. Phân tích khả năng luân chuyển vốn.
 Luân chuyển hàng tồn kho:
- Số vòng quay hàng tồn kho:
Hệ số vòng quay của hàng tồn kho thiết lập mối quan hệ giữa khối lượng hàng
SVTH : Quách Thị Quỳnh Trâm Trang
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Tụ
bán và tồn kho. Sự luân chuyển hàng tồn kho của các doanh nghiệp ở các ngành
khác nhau và trong nội bộ các ngành có thể rất khác nhau. Một cửa hàng bách hóa
có thể có một hệ số quay vòng bình quân là 20 đối với tất cả các mặt hàng, còn cửa
hàng đồ gỗ thường có số vòng quay nhỏ hơn nhiều. Số vòng quay của hàng tồn kho
được tính như sau:
Số vòng quay
hàng tồn kho
=
Giá vốn hàng bán
Giá trị hàng tồn kho bình quân
Sử dụng giá trị hàng tồn kho bình quân ở mẫu số vì tỷ số này đo lường hiệu quả
hoạt động hay số vòng quay của hàng tồn kho trong kỳ.
Hàng tồn kho bình quân được tính như sau: hàng tồn kho đầu kỳ cộng với hàng
tồn kho cuối kỳ rồi chia cho hai. Nếu không có thông tin về hàng tồn kho đầu kỳ,
hàng tồn kho cuối kỳ được sử dụng ở mẫu số của công thức. Khi không có thông tin
về giá vốn hàng bán cũng có thể dùng doanh thu thuần ở tử số.
Nói chung, số vòng quay của hàng tồn kho cao cho thấy rằng :
(1) Đối với hàng tồn kho doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả (mua hàng,
nhận hàng, dự trữ hàng, bán hàng) .
(2) Đầu tư vào hàng tồn kho bị cắt giảm.
(3) Chu kỳ hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi hàng tồn kho thành tiền
được rút ngắn.
(4) Ít nguy cơ hàng tồn kho bị ứ đọng.
Số vòng quay của hàng tồn kho quá cao có thể thấy rằng doanh nghiệp không có
đủ hàng dự trữ để đáp ứng nhu cầu bán ra dẫn đến tình trạng cạn kho và khách hàng
không hài lòng.
Số vòng quay của hàng tồn kho thấp chứng tỏ hàng tồn kho được dữ trữ quá
nhiều, tiêu thụ chậm, chi phí kèm theo hàng tồn kho cao, và triển vọng dòng tiền
chảy vào doanh nghiệp yếu. Số vòng quay của hàng tồn kho thấp làm gia tăng
những khó khăn về tài chính tương lai của doanh nghiệp.
- Số ngày dự trữ hàng tồn kho:
Khả năng chuyển đổi thành tiền của hàng tồn kho còn thể hiện qua số ngày dự
trữ hàng tồn kho.
SVTH : Quách Thị Quỳnh Trâm Trang
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Tụ
Để tính số ngày dự trữ hàng tồn kho, sử dụng công thức:
Số ngày dự trữ
hàng tồn kho
=
Số ngày trong kỳ tính toán
Số vòng quay hàng tồn kho
Số ngày dự trữ hàng tồn kho cho biết độ dài của thời gian dự trữ và sự cung ứng
hàng tồn kho trong thời gian đó. Nó cũng cho biết doanh nghiệp có dự trữ thừa hay
thiếu không.
 Luân chuyển khoản phải thu.
- Số vòng quay các khoản khoản phải thu:
Khả năng thu tiền bán chịu kịp thời của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến khả
năng thanh toán ngắn hạn của nó. Số vòng quay các khoản phải thu đo lường mối
quan hệ tương quan của các khoản phải thu với sự thành công của chính sách bán
chịu và thu tiền của doanh nghiệp. Nó cho biết các khoản phải thu, bình quân, được
chuyển đổi thành tiền bao nhiêu lần trong kỳ. Tuy nhiên, nó cũng chịu ảnh hưởng
bởi các yếu tố bên ngoài, như các điều kiện kinh tế và lãi suất đi vay.
Số vòng quay các khoản phải thu được tính bằng cách chia doanh thu thuần cho
các khoản phải thu bình quân. Về mặt lý thuyết, tử số nên là doanh thu bán chịu
thuần, nhưng doanh thu bán chịu thuần hiếm khi được trình bày trên các báo cáo. Vì
vậy chúng ta sẽ sử dụng doanh thu thuần.Ngoài ra, ở tỷ số này và các tỷ số khác nữa
đòi hỏi có sự tính toán bình quân, chúng ta sẽ lấy số dư đầu kỳ cộng với số dư cuối kỳ
rồi chia cho 2. Khi số dư của năm trước không có sẵn để tính số bình quân, thì ta sử
dụng số dư cuôi năm hiện hành để làm cho số bình quân cho năm hiện hành.
Số vòng quay các
khoản phải thu
=
Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Số vòng quay các khoản phải thu tăng lên chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi nhanh
các khoản nợ, khả năng chuyển đổi thành tiền của các khoản phải thu càng nhanh,
ảnh hưởng tốt đến khả năng thanh toán và khả năng hoạt động. Tuy nhiên số này
quá cao cũng có thể là biểu hiện không tốt bởi vì doanh nghiệp thực hiện phương
thức tín dụng khắc khe, sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình tiêu thụ, giảm doanh
SVTH : Quách Thị Quỳnh Trâm Trang
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Tụ
thu. Bởi vì khách hàng luôn muốn thời hạn trả tiền kéo dài thêm.
-
33
Tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền phụ thuộc vào các điều khoản
tín dụng của doanh nghiệp. Do các điều khoản tín dụng của doanh nghiệp thường
được xác định hằng ngày, ví dụ như 2/10, n/30 (khách hàng được mắc nợ trong
vòng 30 ngày, nếu thanh toán trong vòng 10 ngày sẽ được hưởng chiết khấu 2%
trên số tiền mua chịu), nên việc chuyển đổi vòng quay các khoản phải thu thành số
ngày thu tiền bán hàng bình quân sẽ có ích. Việc chuyển đổi này được thực hiện
bằng cách chia độ dài của kỳ kế toán (thường là 365 ngày) cho số vòng quay các
khoản phải thu.
Số ngày thu tiền bán
hàng bình quân
=
Số ngày trong kỳ tính toán
Số vòng quay các khoản phải thu

Luân chuyển toàn bộ vốn:
Số vòng quay toàn bộ vốn là một thước đo hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn trong
việc tạo ra doanh thu. Tỷ số này cho biết mỗi một đồng đầu tư vào vốn tạo ra được
bao nhiêu đồng doanh thu.
Nói chung tỷ số này càng cao thì doanh nghiệp sử dụng vốn càng có hiệu quả.
Tỷ số này được tính:
Số vòng quay
toàn bộ vốn
=
Tổng doanh thu thuần
Tổng vốn sử dụng bình quân
Số ngày của một
vòng quay
=
Số ngày trong kỳ
Số vòng quay của toàn bộ vốn
SVTH : Quách Thị Quỳnh Trâm Trang

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét