Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

phương hướng và giải pháp cho hoạt động tiêu thụ thuỷ sản của việt nam hiện nay


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phương hướng và giải pháp cho hoạt động tiêu thụ thuỷ sản của việt nam hiện nay": http://123doc.vn/document/1049104-phuong-huong-va-giai-phap-cho-hoat-dong-tieu-thu-thuy-san-cua-viet-nam-hien-nay.htm


Đề án Kinh tế thương mại
nghiên cứu đầy đủ và dự báo chính xác thị trường tiêu thụ giúp cho cơ sở sản xuất
kinh doanh thuỷ sản có kế hoạch và chiến lược đúng đắn trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình. Vì vậy, nghiên cứu và dự báo thị trường và nội dung quan
trọng trước tiên, là việc thường xuyên phải được tiến hành trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Nghiên cứu thị trường: Nghiên cứu thị trường nhằm xác định khả năng tiêu
thụ sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó nâng cao khả năng thích
ứng với thị trường của sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành tổ
chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả theo
yêu cầu của thị trường. Nghiên cứu thị trường bao gồm việc: Nghiên cứu khả năng
thâm nhập và mở rộng thị trường của cơ sở sản xuất kinh doanh; Nghiên cứu các
đối tượng tiêu dùng sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh về cơ cấu, chất lượng,
số lượng, chủng loại, thời gian và địa điểm; Nghiên cứu cả những đối thủ cạnh
tranh của mình nghĩa là nghiên cứu không chỉ nhóm người mua mà cả nhóm người
bán. Việc nghiên cứu cả nhóm người bán tức là cả các đối thủ cạnh tranh của cơ sở
sản xuất kinh doanh cho phép tìm ra khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường của
cơ sở sản xuất kinh doanh trong điều kiện có nhiều người bán và nhiều người mua
tức là thị trường không hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.
Để nghiên cứu thị trường, có thể thông qua sự biến đổi giá cả của thị trường
thông qua phương pháp tiếp thị của cán bộ, nhân viên của cơ sở sản xuất kinh doanh,
tổ chức các hội nghị khách hàng, những cuộc điều tra hay thăm dò ý kiến khách
hàng… Khi nghiên cứu đối tượng khách hàng cần nghiên cứu phân loại khách hàng
về mức thu nhập của các loại khách hàng về giới tính, độ tuổi… xem xét số lượng,
chất lượng, giá cả mà mỗi loại khách hàng ưa dùng để từ đó có đối sách thích ứng với
từng loại. Khi nghiên cứu đối thủ cạnh tranh cần chú ý đến tiềm năng kinh tế, kỹ
thuật và khả nâng thâm nhập vùng thị trường của từng đối thủ cạnh tranh.
- Dự báo thị trường: trên cơ sở nghiên cứu nắm bắt thị trường để có những
giải pháp thích hợp với việc tiêu thụ sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh. Việc
dự báo đúng đắn thị trường giúp cho cơ sở sản xuất kinh doanh vạch ra hướng chiến
lược và triển vọng của mình tham gia vào thị trường, từ đó có những quyết định
đúng đắn đối với việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Về mặt thời gian dự báo thị
trường, cơ sở sản xuất kinh doanh có thể dự báo dài hạn và ngắn hạn. Dự báo dài
hạn và trung hạn giúp cho cơ sở sản xuất kinh doanh vạch ra chiến lược lâu dài của
mình trong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm và cả trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Nội dung dự báo bao gồm: Dự báo khả năng và triển vọng về cung cầu sản phẩm
đang sản xuất và những sản phẩm mới mà cơ sở sản xuất kinh doanh có thể sản
xuất; Dự báo về khách hàng để lựa chọn khách hàng chủ lực, thường xuyên của cơ
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
5
Đề án Kinh tế thương mại
sở sản xuất kinh doanh, có thể xuất hiện những loại khách hàng mới, dự báo về cơ
cấu và chủng loại sản phẩm có triển vọng, dự báo về thời gian, không gian tiêu thụ
sản phẩm và dự báo về xu thế biến động của giá cả.
Việc nghiên cứu thị trường và dự báo thị trường một cách cụ thể, tỉ mỉ với
những phương pháp thích hợp giúp cho cơ sở sản xuất kinh doanh có những bổ
sung và quyết định đúng đắn trong việc sản xuất kinh doanh của mình. Giúp trả lời
được các câu hỏi như: Việc tham gia vào thị trường tiêu thụ sản phẩm đưa lại lợi ích
gì cho cơ sở sản xuất kinh doanh? Thị trường nào là chính? Để cải tiến và nâng cao
hiệu quả tiêu thụ sản phẩm, cơ sở sản xuất kinh doanh nên tiến hành như thế nào?
Bắt đầu từ đâu? Thu hẹp hay mở rộng khả năng sản xuất của cơ sở sản xuất kinh
doanh…?
1.2 Xác định giá cả tiêu thụ
Giá cả là một phạm trù của kinh tế hàng hóa. Với chức năng là thước đo giá
trị, giá cả như là tín hiệu của nhà sản xuất, người tiêu dùng và là thông tin quan
trọng thể hiện sự biến động cung cầu trên thị trường. Giá cả trở thành công cụ quan
trọng điều khiển quan hệ cung cầu, vì vậy giá cả vừa có tác dụng kích thích sản
xuất, vừa hạn chế đối với người sản xuất và tiêu dùng, mặt khác giá cả còn là một
công cụ để phân phối lại lợi nhuận của cơ sở sản xuất kinh doanh.
Việc xác định hợp lý giá cả của cơ sở sản xuất kinh doanh bảo đảm cho cơ
sở sản xuất kinh doanh bảo tồn được vốn sản xuất và có lãi. Giá tiêu thụ sản phẩm
của cơ sở sản xuất kinh doanh được quyết định bởi tổng chi phí sản xuất và lưu
thông sản phẩm.
Giá bán sản phẩm có thể tăng do 3 nguyên nhân:
- Tăng chi phí sản xuất: tăng cầu quá mức và tăng tiền quá mức (lạm phát).
Trong trường hợp các chi phí sản xuất tăng lên như chi phí lao động, thuế, chi phí
trung gian, chi phí hành chính… thì để đảm bảo giữ nguyên lợi nhuận, người sản
xuất buộc phải tăng giá. Về nguyên tắc để đảm bảo lợi nhuận, các chi phí sản xuất
phải được chuyển vào giá bán. Song trong điều kiện có cạnh tranh không phải bất
cứ sự tăng chi phí nào cũng đều làm tăng giá cả sản phẩm.
- Ảnh hưởng của cầu làm tăng giá. Sự tăng cầu một sản phẩm nào đó dẫn đến
làm tăng năng lực sản xuất sản phẩm đó. Nếu cầu vượt quá khả năng sản xuất thì
người bán có thể tăng giá. Song do cạnh tranh nên không thể tăng giá liên tục.
- Phát hành tiền quá mức cũng làm cho giá sản phẩm tăng lên. Đây là trường
hợp nền kinh tế lâm vào thị trường lạm phát.
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
6
Đề án Kinh tế thương mại
Khi xem xét và quyết định mức giá bán ra của sản phẩm, cơ sở sản xuất kinh
doanh cần phải lưu ý đến các yếu tố trên đây trong cơ chế hoạt động của giá cả và
quy định mức giá nào đảm bảo bù đắp chi phí sản xuất và đảm bảo cho cơ sở sản
xuất kinh doanh có lãi. Vì vậy phải linh hoạt điều chỉnh mức giá kịp thời nhằm
nhanh chóng tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra. Lựa chọn thời điểm bán hàng và tiêu
thụ sản phẩm cũng là yếu tố quan trọng. Lựa chọn thời điểm bán hàng có lợi nhất
(được giá) là đảm bảo luân chuyển nhanh vốn của cơ sở sản xuất kinh doanh.
1.3. Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm
Là việc đưa sản phẩm thủy sản của cơ sở sản xuất kinh doanh đến người tiêu
dùng. Trong nền kinh tế thị trường khách hàng, người tiêu dùng là đối tượng phục
vụ của sản xuất vì vậy phải lựa chọn phương pháp nào để đưa sản phẩm đến người
tiêu dùng nhanh, thuận lợi nhất. Việc đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng có thể
theo sơ đồ sau:
Như vậy có hai phương thức tiêu thụ sản phẩm chủ yếu
+ Sản phẩm có thể trực tiếp từ người sản xuất (cơ sở sản xuất kinh doanh)
đến người tiêu dùng dưới hình thức bán lẻ ở các kiốt ngay trong cơ sở sản xuất kinh
doanh, bán ở các chợ (nông thôn, thành thị) hoặc dưới hình thức bán trực tiếp đến
người tiêu dùng (bán rong). Đây là hình thức được thực hiện chủ yếu ở các dạng
biến động thủy sản và các hộ nông dân (có khối lượng hàng hóa không lớn).
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
7
Sản phẩm
- Người thu gom
- Cơ sở chế biến
- Các đại lý
- Các công ty thương mại

- Bán lẻ
- Tại ki ốt của cơ sở kinh
doanh
- Tại chợ
- Người bán rong
Người tiêu
dùng
Bán thông qua các tổ
chức thươg mại,chế biến
Bán trực tiếp
Đề án Kinh tế thương mại
+ Sản phẩm có thể đến người tiêu dùng qua khâu tổ chức trung gian là chức
năng thương nghiệp: các đại lý, các công ty thương nghiệp và tư thương… Ở đây,
các cơ sở sản xuất kinh doanh bán buôn thủy sản cho các tổ chức thương nghiệp để
họ thực hiện bán lẻ thủy sản cho người tiêu dùng.
Hệ thống cơ sở hạ tầng TTSP thuỷ sản của Việt Nam đang từng bước phát
triển. Các chợ sản phẩm thuỷ sản đã hình thành và hoạt động sôi động. Các chợ cá
thường đi cùng với các bến hoặc cảng cá. Nói chung các chợ cá nằm trên đất liền,
tuy nhên gần đây, trên toàn quốc đã có 4 cảng cá và chợ cá ở vùng khơi mới hình
thành. Việt Nam có chợ cá độc lập hoặc tổng hợp cho các sản phẩm thuỷ sản.
Chợ bán buôn nội địa : Trước năm 2002, cả nước chưa có trung tâm kinh
doanh hay chợ bán buôn riêng biệt dành cho các sản phẩm thuỷ sản. Kinh doanh
thuỷ sản thường được tiến hành ở bến cá hoặc rải rác ở chỗ những người kinh donh
thuỷ sản. Các thành phần nghề cá không có đủ thông tin về sản lượng, khả năng tiếp
cận và tiêu thụ sản phẩm, giá cung cấp thuỷ sản không phản ánh giá thị trường thực
tế. Những người kinh doanh và tiêu dùng thuỷ sản không thể thoã mãn với các sản
phẩm kinh doanh.
Chợ và cửa hàng bán lẻ: người tiêu dùng có thể tiếp cận với sản phẩm thuỷ
sản ở các chợ khác nhau. Có thể mua được nhiều loại, dạng, số lượng và chất lượng
thuỷ sản ở các chợ tuỳ thuộc vào phạm vi và quy mô của chợ. Các chợ thường tập
trung nhiều nhất ở các thành phố và khu đô thị lớn nhằm cung cấp thực phẩm nói
chung và thuỷ sản nói riêng cho người tiêu dùng.
1.4. Tổ chức thông tin quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của cơ sở sản xuất
kinh doanh
Hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của mình, thu hút sự chú ý
của khách hàng đối với sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh. Có thế sử dụng
các thông tin đại chúng như đài, báo, tạp chí, áp phích, tờ rơi… Quảng cáo nói lên
công dụng và tiện lợi về việc sử dụng sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh. Tùy
theo từng loại sản phẩm và đối tượng tiêu dùng mà có hình thức quảng cáo thích
hợp. Bao bì, đóng gói, mật mã và các nhãn mãn sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh
doanh cũng là một hình thức quảng cáo có hiệu quả. Tham gia các hội chợ thương
mại là một hình thức tốt và có hiệu quả để giới thiệu sản phẩm và có thể qua hội
chợ để ký hợp đồng tiêu thụ và thu hút khách hàng.
Đối với các loại thủy sản xuất khẩu cần tích cực và chủ động trong việc tham
gia các hội chợ thương mại quốc tế
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
8
Đề án Kinh tế thương mại
Tổ chức các cửa hàng giới thiệu sản phẩm ngay trong cơ sở sản xuất kinh
doanh hay ở những thuận lợi vừa giới thiệu sản phẩm, vừa bán sản phẩm cũng là
một hình thức quảng cáo tốt. Hoặc tham gia các hội chợ, triển lãm qua đó giới thiệu
sản phẩm và ký hợp đồng tiêu thụ, tổ chức hội nghị khách hàng.
Đối với sản phẩm chế biến cần đăng ký sản phẩm của mình cả về quy cách,
nhãn mác, giúp cho cơ sở sản xuất kinh doanh đảm bảo sở hữu công nghiệp về sản
phẩm của mình. Tránh làm hàng giả và lợi dụng uy tín của những người khác.
2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Đánh giá toàn diện hoạt động bán hàng cả về khối lượng, giá trị hàng hoá
bán ra, chi phí bán hàng và kết quả hoạt động bán hàng. Đánh giá cả mặt định tính
đến định lượng, sử dụng các chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối.
* Đánh giá kết quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm
+ Khối lượng sản phẩm bán ra theo tổng số, chia các mặt hàng, khách hàng
thời gian, khu vực bán.
+ Doanh số và doanh thu bán theo tổng, các mặt hàng, cho khách hàng theo
thời gian và khu vực.
+ Số lượng (giá trị) hàng còn tồn kho, hàng đi trên đường chờ thanh toán.
+ Số khách hàng bán được,doanh số trên một khách hàng bình quân.
+ Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch bán hàng về khối lượng và giá trị
+ Tỷ phần thị trường của doanh nghiệp trong kỳ, tỷ phần tăng thêm (giảm đi)
trong kỳ
* Chi phí bán hàng
+ Tổng chi phí bán hàng, các khoản mục chi phí bán hàng như chi khấu hao,
chi tiền lương, chi lãi vay ngân hàng.
+ Chi phí trực tiếp và gián tiếp bán hàng, chi phí cố định, chi phí biến đổi.
+ Vốn lưu động bình quân sử dụng.
+ Số vòng quay của vốn lưu động,thời gian một vòng quay.
+ Chi phí hàng hoá tồn kho.
+ Chi phí hàng mất không thu hồi.
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
9
Đề án Kinh tế thương mại
* Hiệu quả bán hàng
+ Lãi gộp, lãi thuần.
+ Mực lợi nhuận trên doanh thu, chi phí và vốn kinh doanh.
+ Đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng về hàng hoá, về dịch vụ,về nhân
viên phục vụ.
+ Những ý kiến không hài lòng của khách hàng
III. Những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức tiêu thụ sản phẩm của cơ sở sản
xuất kinh doanh thủy sản.
Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức tiêu thụ sản phẩm có thể phân theo các
nhóm sau đây:
1. Nhóm nhân tố thị trường
Hiện nay các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Tùy theo quy
mô, trình độ chuyên môn hóa, trình độ công nghệ… của từng loại cơ sở sản xuất
kinh doanh mà ảnh hưởng của thị trường có khác nhau. Mặc dù vậy, nhân tố thị
trường có ảnh hưởng rất lớn chi phối quá trình sản xuất kinh doanh của các cơ sở
kinh doanh thủy sản. Có thể xét trên 3 yếu tố sau đây của thị trường.
- Nhu cầu thị trường về thủy sản phẩm. Cầu thủy sản phụ thuộc vào thu
nhập, cơ cấu dân cư ở các vùng, các khu vực. Về nguyên lý, thu nhập của dân cư
tăng lên thì cầu cũng tăng lên, song đối với sản phẩm thủy sản khi thu nhập dân cư
tăng lên thì cầu về thủy sản có thể diễn ra theo hướng tăng lên đối với các sản phẩm
có nhu cầu thiết yếu hàng ngày của dân cư và các sản phẩm cao cấp, đồng thời giảm
đối với các sản phẩm kém phẩm chất và thấp cấp. Khi thu nhập của dân cư tăng lên
thì nhu cầu đối với lương thực thực phẩm cấp thấp giảm xuống. Cơ cấu dân cư cũng
có ảnh hưởng đến cầu. Đối với những vùng nông thôn mà cư dân nông thôn là chủ
yếu, phần lớn nhu cầu lương thực thực phẩm được tiêu dùng cho chính họ. Vì vậy,
những nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chủ yếu họ tự do cung ứng, việc tổ chức các chợ
nông thôn để trao đổi sản phẩm tại chỗ có ý nghĩa rất quan trọng. Đối với các vùng
thành thị, bao gồm các thị trấn, thị xã các thành phố lớn hay các khu công nghiệp
tập trung dân cư phi nông sản, lớn thì nhu cầu tiêu thụ hàng ngày có số lượng lớn và
chất lượng cao, việc tổ chức các cửa hàng, các kiốt trở nên cần thiết. Các cơ sở sản
xuất kinh doanh muốn tiêu thụ tốt thủy sản phải nắm bắt được những nhu cầu trên
cơ sở thu nhập của nhân dân.
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
10
Đề án Kinh tế thương mại
- Những sản phẩm mang tính chất nguyên liệu và phải thông qua chế biến,
cần có tổ chức tiêu thụ đặc biệt thông qua các hợp đồng và phải tổ chức tốt việc bảo
quản để đảm bảo chất lượng sản phẩm.
- Cung cấp sản phẩm thủy sản là một yếu tố quan trọng trong cơ chế thị
trường. Các cơ sở sản xuất kinh doanh phải tìm hiểu khả năng sản xuất loại sản
phẩm mà mình sản xuất, tức là phải tìm hiểu nắm bắt các đối thủ cạnh tranh. Sản
phẩm thủy sản có tính đa dạng cả về chủng loại, số lượng, về phẩm cấp và về đối
tượng tiêu dùng, vì vậy tính không hoàn hảo của thị trường thể hiện đặc trưng của
sản phẩm thủy sản. Khi số lượng cung tăng lên làm cho giá sản phẩm giảm xuống
và ngược lại. Để tổ chức tốt việc tiêu thụ sản phẩm, các cơ sở sản xuất kinh doanh
phải hiểu rõ được đối thủ cạnh tranh của mình về mặt số lượng, chất lượng sản
phẩm và đối tượng khách hàng.
- Khi nghiên cứu về cung cầu sản phẩm, các cơ sở sản xuất kinh doanh một
mặt phải xem xét lại khả năng sản xuất kinh doanh của mình đối với sản phẩm, mặt
khác phải tìm hiểu kỹ các khả năng sản xuất của các sản phẩm mà mình sản xuất
trên thị trường. Đặc biệt cầu chú ý đến cải tiến và nâng cao chất lượng, mẫu mã,
chủng loại sản phẩm. Khi xem xét cung sản phẩm nhiều khi phải chú ý đến mấy yếu
tố ảnh hưởng đến cung sản phẩm sau dây: giá cả sản phẩm bao gồm giá cả sản
phẩm đang sản xuất, sản phẩm thay thế bổ sung và giá cả các đầu vào, trình độ kỹ
thuật và ứng dụng công nghệ vào sản xuất, môi trường tự nhiên và cơ chế chính
sách đang được thực hiện, đồng thời phải chú ý đến cả các áp lực của cầu.
- Giá cả là 1 yếu tố quan trọng, là thước đo sự cần bằng cung – cầu trong nền
kinh tế thị trường. Giá cả tăng cho thấy sản phẩm đó đang khan hiếm, cầu lớn hơn cung
và ngược lại. Tuy nhiên khi xem xét yếu tố giá cả cần chú ý đến các loại sản phẩm:
+ Loại sản phẩm cao cấp thông thường giá cả tăng lên thì cầu lại giảm.
+ Loại sản phẩm thay thế: khi giá cả của các loại sản phẩm này tăng lên thì
cầu của sản phẩm thay thế có thể tăng lên.
+ Loại sản phẩm bổ sung là những sản phẩm mà khi sử dụng sản phẩm này
phải sử dụng kèm theo loại sản phẩm khác.
2. Nhóm nhân tố về cơ sở vật chất – Kỹ thuật và công nghệ của sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm.
Các nhân tố về cơ sở vật chất-kỹ thuật và công nghệ bao gồm hệ thống cơ sở
hạ tầng như đường sá giao thông, phương tiện vận tải, hệ thống bến cảng kho bãi,
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
11
Đề án Kinh tế thương mại
hệ thống thông tin liên lạc…hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc lưu
thông nhanh chóng kịp thời, đảm bảo an toàn cho việc tiêu thụ sản phẩm.
- Các nhân tố về kỹ thuật và công nghệ sản xuất và tiêu thụ đặc biệt quan
trọng trong việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Hệ thống chế biến với những dây chuyền công nghệ tiên tiến sẽ làm tăng
thêm giá trị của sản phẩm. Các sản phẩm thủy sản trước khi đi vào chế biến theo kỹ
thuật tiên tiến cũng cần được qua các giai đoạn sơ chế lúc đầu. Công nghệ chế biến,
công nghệ sau thu hoạch của sản phẩm thủy sản vừa tránh được sự hao hụt, mất mát
trong quá trình quy hoạch, vừa tăng thêm chất lượng và giá trị sản phẩm. Đối với
công nghệ chế biến còn tạo nên những sản phẩm tiêu dùng mới và đổi mới tập quán
tiêu dùng truyền thống, kích thích và mở rộng tính đa dạng trong tiêu dùng thủy sản.
3. Nhóm nhân tố về chính sách vĩ mô
Nhóm nhân tố này thể hiện vai trò tác động của nhà nước đến thị trường thủy
sản. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động
sản xuất kinh doanh bị chi phối bởi các quy luật như cung cầu, giá cả… song tác
động của nhà nước đến thị trường có ý nghĩa to lớn và giúp cho các cơ sở sản xuất
kinh doanh hoạt động có hiệu quả, các chính sách vĩ mô của nhà nước có liên quan
đến tiêu thụ sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản bao gồm:
- Chính sách nhiều thành phần kinh tế. Trong thủy sản nông thôn hiện nay
nhiều thành phần kinh tế tham gia như: Kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác, kinh tế
hộ nông dân, kinh tế trang trại, kinh tế tư nhân… Điều đó nói lên rằng, cung cấp sản
phẩm thủy sản do nhiều tác nhân tham gia, nó cũng thể hiện tính không hoàn hảo
của thị trường thủy sản nghĩa là cùng một loại sản phẩm có nhiều người bán trên thị
trường. Việc quy định vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế là
quan trọng nhằm đảm bảo tính ổn định của sản xuất.
- Chính sách tiêu dùng: chính sách tiêu dùng thủy sản hướng vào việc
khuyến khích tiêu dùng các thủy sản trong nước, tạo nên những thói quen và tập
quán mới trong việc tiêu dùng các sản phẩm mới và đã qua chế biến. Mặt khác
chính sách tiêu dùng có liên quan đến việc tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cư,
kể cả dân cư thủy sản và phi thủy sản, thành thị. Chính sách tiêu dùng nhằm vào
việc nâng cao đời sống của nhân dân, tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cư trên cơ
sở đó tăng sức mua của nhân dân.
- Chính sách đầu tư và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào thủy sản: đầu tư trước
hết vào việc xây dựng và cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
12
Đề án Kinh tế thương mại
giao thông nông thôn và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện
việc chuyển đổi cơ cấu thủy sản, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa.
- Chính sách giá cả, bảo trợ sản xuất và tiêu dùng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm của cơ sở
sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào năng lực tổ chức của cán bộ quản lý cơ sở sản
xuất kinh doanh, nghệ thuật và khả năng tiếp thị, marketing, tổ chức hệ thống tiêu
thụ sản phẩm cho người tiêu dùng… vì vậy việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
quản lý mà trước hết là đội ngũ cán bộ làm công tác tiêu thụ sản phẩm là hết sức
quan trọng.
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
13
Đề án Kinh tế thương mại
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TTSP THUỶ SẢN NƯỚC TA
SAU KHI GIA NHẬP WTO
I. Đăc điểm kinh tế - kĩ thuật và quá trình phát triển của ngành Thuỷ sản.
1. Vị trí, vai trò của ngành Thuỷ sản đối với nền kinh tề Việt Nam.
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp và thuỷ sản.Như vậy nói đến ngành thuỷ sản, người ta nói đến ba khía
cạnh chủ yếu sau đây:
- Ngành thuỷ sản là một bộ phận hay còn gọi là một phân ngành của nông
nghiệp, bởi vì ngành thuỷ sản có những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp nói
chung. Tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành thuỷ sản là mặt nước; đối tượng lao
động là những sinh vật thuỷ sinh; kết quả sản xuất của ngành là những sinh vật,
những kết quả sinh học. Mặc dù có những đặc điểm tương tự của nông nghiệp,
ngành thuỷ sản vẫn có tính độc lập tương đối về kinh tế, kỹ thuật và môi trường.
Tính độc lập tương đối về kinh tế biểu hiện chỗ trong ngành thuỷ sản người ta rất
khó phân biệt rạch ròi về quyền sở hữu, quản lý và sử dụng thuỷ vực và các nguồn
lợi thuỷ sản, nhất là đối với các lưu vực con sông, cửa biển, vùng vịnh hay vùng
biển. Do vậy trong các hình thức tổ chức sản xuất, sự hiệp tác thường được coi
trọng. Về mặt kỹ thật, tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ ngành thủy sản cũng
đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thật riêng phục vụ cho nuôi trồng
hay đánh bắt. Về môi trường, hoạt động của ngành thuỷ sản cũng có thể tự gây ô
nhiễm cho môi trường nước, lại cũng có thể làm các thuỷ vực và nguồn lợi thuỷ sản
bị ô nhiễm hay huỷ hoại do hoạt động ngành khác gây ra. Do vậy, sự phát triển hài
hoà giữa thuỷ sản với trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp trên từng vùng sinh thái là
điều kiện phát triển bền vững của nông nghiệp nói chung.
- Những hoạt động phát triển của ngành thủy sản gồm nuôi trồng và đánh bắt
thuỷ sản. Tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi vùng và mỗi địa phương về mặt nước và
nguồn lợi thuỷ sản mà địa phương đó coi trọng hoạt động nuôi trồng, đánh bắt kết
hợp phát triển một cách hài hoà các hoạt động nói trên.
- Ngành thuỷ sản là một ngành hàng có tính chất liên ngành cao. Khi trình độ
phát triển và nhu cầu xã hội còn thấp, sản xuất ngành thuỷ sản có quy mô nhỏ, sản
phẩm ít nên chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp dưới dạng sản phẩm tươi. Khi
quy mô sản xuất tăng lên, nhu cầu tiêu dùng của xã hội đa dạng và phức tạp thì chế
biến phần lớn các sản phẩm đòi hỏi phát triển mạnh mẽ các ngành chuyên môn hoá
hẹp như: công nghiệp dánh bắt cá biển, cơ khí chế tạo và sữa chữa tàu thuyền, công
nghiệp sản xuất thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp chế biến thuỷ sản .
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét