Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

hoàn thiện quản trị hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở công ty xuất nhập khẩu tổng hợp và chuyển giao công nghệ việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hoàn thiện quản trị hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở công ty xuất nhập khẩu tổng hợp và chuyển giao công nghệ việt nam": http://123doc.vn/document/1053798-hoan-thien-quan-tri-hoat-dong-xuat-khau-hang-hoa-o-cong-ty-xuat-nhap-khau-tong-hop-va-chuyen-giao-cong-nghe-viet-nam.htm


5
CHƯƠNG I : NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU .
1.1. Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp trong cơ chế thị
trường .
1.1.1.Tâm quan trong của xuất khẩu hàng hoá ổ nước ta
Sau Đại hội Đảng lần VI của Đảng cộng sản Việt Nam nước ta đã bước
vào một thời kỳ mới. Thời kỳ phát triển và mở rộng giao lưu hàng hoá với các
nước bên ngoài. Với con đường mà Đảng và Nhà nước đã đề ra đó là đi theo
con đường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nên kinh tế thị trường dưới
sự quản lý của nhà nước.Nền kinh tế thị trường với năm thành phần kinh tế cơ
bản trong xã hội, kinh tế nhà nước làm trọng. Trong nền kinh tế thị trường về
cơ bản kinh tế hàng hoá làm trọng. Để cho kinh tế hàng hoá phát triển thì kinh
doanh xuất khẩu hàng hoá là một trong vấn đề cơ bản nhất. Đảng và Nhà nước
ta khẳng định “không ngừng mở rộng phân công và hợp tác quốc tế trên các
lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu, đó
là những đòi hỏi khách quan của thời đại“ Kinh doanh thương mại quốc tế là
một khâu của qúa trình tái sản xuất xă hội. Chính vì thế tầm quan trọng của
xuất khẩu hàng hoá ở nước ta là rất lớn.
Xuất khẩu hàng hoá là một khâu của quá trình kinh doanh xuất nhập.
Xét trên bình diện một quốc gia thì xuất khẩu hàng hoá là hoạt đông cơ bản
nhất, là nguồn thu chủ yếu đối với hoạt động thu ngoại tệ của một quốc gia tức
là các doanh nghiệp đã tham gia vào một trong hai khâu của quá trình tái sản
xuất mở rộng: phân phối và lưu thông hàng hoá và dịch vụ. Hoạt động xuất
khẩu là chiếc cầu nối sản xuất và tiêu dùng trong nước với sản xuất và tiêu
dùng trên thị trường nước ngoài. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu không chỉ
mang lại nguồn lợi lớn cho doanh nghiệp mà còn góp phần đẩy mạnh sản xuất
trong nước nhờ tích luỹ vốn từ khoản ngoại tệ thu về, phát huy tính năng động
6
sáng tạo của các đơn vị kinh tế thông qua cạnh tranh quốc tế.xuất khẩu hàng
hoá góp phần chuyển dịch cơ cấu của nước ta từ nông nghiệp sang công nghiệp.
Xuất khẩu hàng hoá không những làm tăng ngân sách nhà nước mà còn làm cải
thiện đời sống nhân dân. Kinh doanh xuất khẩu còn là phương tiện để khai thác
triệt để các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực và
thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các nước và đẩy nhanh tiến trình hoà nhập vào
nền kinh tế toàn cầu.
1.1.2. Nội dung của hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu là một quy trình kinh doanh bao gồm nhiều công
đoạn khác nhau, mỗi công đoạn lại mang những đặc trưng riêng. Vì vậy hoạt
động xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với hoạt động thương mại trong nước.
Khi hoạt động trên thị trường quốc tế, tất cả các doanh nghiệp dù đã có
kinh nghiệm hay mới tham gia vào thị trường đều phải tuân thủ một cách
nghiêm túc các giai đoạn của một thương vụ thị mới có khả năng tồn tại được.
Hoạt động xuất khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ,
nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn đều phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và
đặt trong mối liên hệ lẫn nhau.
a) Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu.
Đây là một trong những nội dung cơ bản, đầu tiên nhưng rất quan
trọng để tiến hành được hoạt động xuất khẩu. Khi doanh nghiệp có ý định tham
gia vào thị trường quốc tế thì doanh nghiệp phải xác định những mặt hàng mà
mình định kinh doanh. Nói chung, doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng xuất khẩu
theo một trong những cách sau:
- Doanh nghiệp xuất khẩu những sản phẩm mà mình sản xuất.
- Doanh nghiệp xuất khẩu những sản phẩm mà thị trường cần.
7
- Doanh nghiệp xuất khẩu những mặt hàng giống nhau ra thị trường thế
giới không phân biệt sự khác nhau về văn hoá, xã hội, ngôn ngữ, phong tục tập
quán.
Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu ngoài yêu cầu phải đạt tiêu chuẩn
quốc tế, đáp ứng nhu cầu thị trường thì còn phải phù hợp với khả năng cũng
như kinh nghiệm của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi sự phân tích đánh giá một
cách tỉ mỉ và cẩn thận không chỉ thị trường nước ngoài mà còn chính bản thân
doanh nghiệp để từ đó dự đoán được những xu hướng mà có thể mang lại lợi
ích hay không mang lại lợi ích cho doanh nghiệp khi mặt hàng của mình gia
nhập thị trường quốc tế.
b) Lựa chọn thị trường xuất khẩu.
Sau khi lựa chọn được mặt hàng xuất khẩu doanh nghiệp cần phải hiểu
biết rõ về từng thị trường dự tính sẽ xâm nhập vào.
Thị trường là yếu tố sống còn và là yếu tố vận động không ngừng, vì vậy
bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu để chỉ ra
phương thức hoạt động của nó như thế nào cho phù hợp để từ đó doanh nghiệp
có đối sách thích hợp trong quá trình xuất khẩu sang từng loại thị trường. Hoạt
động nghiên cứu thị trường bao gồm:
c) Nghiên cứu môi trường.
Điều này thể hiện việc nghiên cứu môi trường kinh tế, môi trường văn
hoá-xã hội, môi trường chính trị, hệ thống luật pháp, môi trường công nghệ. Từ
những năm 1950, xu hướng liên kết kinh tế mang tính khu vực phát triển mạnh,
ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu.
Môi trường kinh tế ảnh hưởng đến xuất khẩu thường được biểu thị
bằng các chỉ tiêu như thu nhập quốc dân, tốc độ tăng trưởng…
Môi trường văn hoá-xã hội ảnh hưởng đến thái độ của khách hàng đối
với sản phẩm.
8
d) Nghiên cứu giá cả hàng hoá.
Nghiên cứu giá cả hàng hoá là vấn đề quan trọng đối với bất kỳ đơn vị
kinh doanh xuất khẩu nào bởi xu hướng biến động của giá cả trên thị trường
quốc tế rất phức tạp và chịu sự chi phối của những nhân tố lạm phát, chu kì,
cạnh tranh lũng đoạn giá cả.
e) Nghiên cứu về cạnh tranh.
Thị trường không bao giờ thuộc về một doanh nghiệp nào cả. Mọi
doanh nghiệp đều có đối thủ cạnh tranh ở bất kỳ nơi nào. Bởi vậy khi xâm nhập
một thị trường nước ngoài thì công việc cần thiết cho doanh nghiệp là nghiên
cứu về cạnh tranh.
+ Ai có thể là đối thủ cạnh tranh
+ Cạnh tranh như thế nào (cạnh tranh về độ tin cậy, đổi mới công nghệ
hay khuyếch trương quảng cáo)
+ Cơ cấu cạnh tranh (số lượng đối thủ cạnh tranh và sự tham gia của họ
vào thị trường tương ứng)
f) Nghiên cứu về nhu cầu.
Nhu cầu là một yếu tố chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những nhân tố khác
như văn hoá, sở thích, kinh tế, chính trị
g) Lựa chọn bạn hàng.
Sau khi đã lựa chọn được mặt hàng và thị trường xuất khẩu, doanh
nghiệp cần lựa chọn đối tác đang hoạt động trên thị trường đó để thực hiện các
kế hoạch kinh doanh của mình. Việc lựa chọn đúng bạn hàng sẽ tránh cho
doanh nghiệp những phiền toái, mất mát và rủi ro dễ gặp trên thị trường quốc
tế. Do đó những bạn hàng lý tưởng có những đặc điểm sau:
+ Có thực lực về tài chính.
+ Có thiện chí trong quan hệ kinh doanh.
+ Có uy tín.
9
h) Tạo nguồn hàng xuất khẩu.
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá, dịch vụ của một công ty hoặc
một địa phương hoặc một vùng hoặc toàn bộ đất nước có khả năng xuất khẩu
được. Để tạo nguồn hàng xuất khẩu các doanh nghiệp có thể đầu tư trực tiếp
hay gián tiếp cho sản xuất, thu gom hoặc ký kết hợp đồng thu mua với những
đơn vị sản xuất.
k) Lập phương án giao dịch, đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện
hợp đồng xuất khẩu.
l) Chuẩn bị giao dịch.
Do hoạt động kinh doanh đối ngoại thương phức tạp hơn các hoạt
động đối nội vì nhiều lẽ: bạn hàng ở cách xa nhau, hoạt động kinh doanh chịu
sự điều tiết của nhiều hệ thống luật pháp, hệ thống tiền tệ tài chính khác nhau
nên trước khi tiến hành hợp tác làm ăn, doanh nghiệp cần phải chuẩn bị chu
đáo. Kết quả của việc giao dịch phụ thuộc nhiều vào sự chuẩn bị đó.
Việc lựa chọn khách hàng để giao dịch cần phải căn cứ vào một số
điều kiện như: tình hình kinh doanh của họ, khả năng vốn, cơ sở vật chất kỹ
thuật, quan điểm kinh doanh, uy tín, quan hệ và thái độ chính trị.
- Giao dịch đàm phán trước khi ký kết hợp đồng xuất khẩu.
Đây là giai đoạn quan trọng bởi nó quyết định đến lợi ích mà doanh
nghiệp sẽ thu được trong quá trình làm ăn với đối tác nước ngoài. Giao dịch
xuất khẩu có những cách thức sau:
+ Chào hàng: người xuất khẩu thể hiện rõ ý chí của mình muốn bán
hàng cho người được chào hàng và là lời đề nghị ký kết hợp đồng. Trong chào
hàng người ta thường nêu rõ tên hàng, quy cách phẩm chất, số lượng, giá cả,
điều kiện cơ sở giao hàng, thời gian thanh toán.
10
+ Hoàn giá: Lời chào hàng không được chấp nhận hoàn toàn mà bên đối
tác đưa ra đề nghị mới thì lời đề nghị mới này gọi là hoàn giá. Mỗi một lần giao
dịch thường qua nhiều lần hoàn giá.
+ Chấp nhận: sự đồng ý hoàn toàn tất cả những điều kiện đã nêu ra. Sau
đó hợp đồng chính thức có hiệu lực.
+ Xác nhận: hai bên sau khi thống nhất được với nhau về các điều kiện
giao dịch có khi cẩn thận thì ghi lại mọi điều đã thoả thuận gửi cho đối phương.
- Ký kết hợp đồng.
Hợp đồng mua bán hàng hoá là một văn bản có tính chất pháp lý được
hình thành trên cơ sở thoả thuận một cách bình đẳng, tự nguyện giữa những chủ
thể trong đó quy định người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá
cho người mua còn người mua sẽ có nghĩa vụ chuyển cho người bán một khoản
tiền ngang với giá trị hàng hoá.
+ Khi ký kết hợp đồng có những điểm cần chú ý:
. Hợp đồng phải được trình bày rõ ràng và đúng nội dung thoả thuận.
. Hợp đồng nên đề cập đến mọi vấn đề, tránh việc phải dùng đến tập quán
và để có cơ sở giải quyết thắc mắc của bên kia mà không gây tranh chấp.
. Người ký hợp đồng phải là người có thẩm quyền.
. Ngôn ngữ trong hợp đồng la ngôn ngữ hai bên cùng thông thạo.
Mọi sự cam kết trong hợp đồng sẽ là căn cứ pháp lý để các bên thực hiện
những nghĩa vụ của mình
- Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi hợp đồng được ký kết, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu với tư cách là một bên của hợp đồng phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó.
Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời đảm bảo được
quyền lợi quốc gia và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp.
11
Giục mở và kiểm tra thư tín dụng (L/C): Trong hoạt động thương mại
quốc tế ngày nay, việc sử dụng L/C trở nên phổ biến do những lợi ích của nó
mang lại. Sau khi người nhập khẩu mở thư tín dụng, người xuất khẩu phải kiểm
tra cẩn thận và chi tiết các điều kiện trong L/C xem có phù hợp với điều kiện
trong hợp đồng không để nếu có sai sót gì thì thông báo cho người nhập khẩu
biết để sửa chũa kịp thời.
Xin phép xuất khẩu: Theo quy định của chính phủ thì trừ một số mặt
hàng đặc biệt thì các loại hàng xuất khẩu thông thường hiện nay không phải xin
giấy phép xuất khẩu mà doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mã số trong giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh là được phép xuất khẩu. Còn đối với những hàng hoá
thuộc danh mục xuất nhập khẩu có điều kiện thì doanh nghiệp phải có một bộ
hồ sơ trình Bộ thương mại để xin phép bao gồm:
+Đơn xin phép
+Phiếu hạn ngạch
+Bản sao hợp đồng đã ký với đối tác nước ngoài và một số giấy tờ liên
quan.
. Kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng.
. Mua bảo hiểm và thuê phương tiện vận tải: tuỳ thuộc vào thoả thuận
trong hợp đồng giữa hai bên mà xác định người xuất khẩu có nghĩa vụ mua bảo
hiểm và thuê vận tải hay không.
Chẳng hạn nếu điều kiện cơ sở giao hàng là CIF thì người xuất khẩu
có nghĩa vụ thuê vận chuyển và mua bảo hiểm, còn nếu điều kiện cơ sở giao
hàng là EW thì người xuất khẩu không có nghĩa vụ nào cả.
. Làm thủ tục hải quan: Hàng hoá khi vượt ra khỏi biên giới một nước
đều phải làm thủ tục hải quan. Việc làm thủ tục hải quan bao gồm ba bước:
12
+Khai báo hải quan tức là doanh nghiệp khai báo tất cả các đặc điểm của
hàng hoá về số lượng, chất lượng, tổng giá trị, phương tiện vận chuyển, nước
nhập khẩu… và xuất trình những chứng từ cần thiết.
+Xuất trình hàng hoá.
+Thực hiện những quyết định của hải quan.
. Giao hàng xuất khẩu.
. Nhận thanh toán
Nhận thanh toán là bước cuối cùng của việc thực hiện một hợp đồng
xuất khẩu nếu không có khiếu nại hay tranh chấp. Nó là thước đo và có ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong thương mại quốc tế có rất nhiều phương thức thanh toán khác
nhau như thanh toán bằng tiền mặt, bằng chuyển khoản, phương thức nhờ thu,
phương thức tín dụng chứng từ. Do vậy người xuất khẩu về phương diện thanh
toán cần xác định rõ phương thức thanh toán và cần phải ghi rõ trong hợp đồng.
Nói chung người xuất khẩu sử dụng phương thức thanh toán nào ít rủi ro
nhất tức là phương thức tín dụng chứng từ.
m)Những nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, trong số đó có
thể liệt kê ra một số nhân tố sau đây.
- Các yếu tố kinh tế
+ Tình hình kinh tế trong nước và định hướng xuất khẩu của chính phủ.
Hoạt động xuất khẩu đương nhiên phụ thuộc nhiều vào tiềm lực sản xuất
trong nước và định hướng của chính phủ: coi trọng sản xuất tiêu dùng trong
nước hay hướng về xuất khẩu. Nếu chính phủ coi trọng chính sách hướng về
xuất khẩu thì khi đó hoạt động xuất khẩu mới phát triển.
+ Quy chế xuất nhập khẩu.
13
+ Thuế quan xuất khẩu.
Thuế quan xuất khẩu làm tăng thu cho ngân sách nhưng nó lại làm cho
giá cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế cao hơn mức giá cả trong nước. Tác
động của thuế quan xuất khẩu nhiều khi mang đến bất lợi cho khả năng xuất
khẩu do quy mô xuất khẩu của một nước là nhỏ so với dung lượng của thị
trường thế giới, thuế xuất khẩu là hạ thấp tương đối mức giá cả trong nước của
hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế và sẽ làm giảm sản
lượng trong nước của mặt hàng có thể xuất khẩu, sản xuất trong nước sẽ thay
đổi bất lợi đối với mặt hàng xuất khẩu. Mặt khác việc duy trì một mức thuế
xuất khẩu cao trong một thời gian dài sẽ làm lợi cho những đối thủ cạnh tranh.
Tóm lại, thuế xuất khẩu cao sẽ làm hạn chế hoạt động xuất khẩu và ngược lại
thuế xuất khẩu thấp sẽ tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu.
+ Các nhân tố phi thuế quan.
. Hạn ngạch: là quy định của nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt
hàng hay một nhóm mặt hàng được phép xuất khẩu hay nhập khẩu từ một thị
trường trong một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép. Hạn
ngạch nhập khẩu của một nước sẽ ảnh hưởng đến số lượng hàng hoá xuất khẩu
của nước khác.
. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện:
là hình thức quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế
bớt số lượng hàng xuất khẩu sang nước mình một cách tự nguyện, nếu không
họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết. Khi một mặt hàng xuất khẩu gặp
phải hạn chế xuất khẩu tự nguyện sẽ gặp khó khăn trong số lượng hàng được
xuất khẩu tương tự như hạn ngạch
. Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: bao gồm những quy định về về
sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói đặc biệt là các tiêu chuẩn về
vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường sinh thái đối với máy móc
thiết bị và dây chuyền công nghệ.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét