Đạo giáo
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không
được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào.
Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín.
Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ
phiên bản đó cho bài này.
Nếu không, những câu hay đoạn văn không có chú giải nguồn gốc có thể bị thay thế
hoặc xóa đi bất cứ lúc nào.
Đạo Giáo Tam Thánh
Đạo giáo (tiếng Trung: 道教), Giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo
Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của xứ này. Nguồn gốc lịch
sử được xác nhận của Đạo giáo được xem nằm ở thế kỉ thứ 4 trước CN, khi tác
phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện. Các tên gọi khác là Đạo Lão, Đạo
Hoàng Lão, hay Đạo gia (道家).
Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với
Nho giáo và Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập
(Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá dân tộc Trung Quốc. Mặc dù
có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả ba giáo lí này đã hoà hợp thành một
truyền thống. Ảnh hưởng Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi
biên giới Trung Quốc, được truyền đến các nước Đông Nam Á lân cận như Việt
Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết
học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ thuật và địa
lí.
Vì xuất hiện dưới nhiều trạng thái khác biệt và sự khó phân ranh rõ ràng với những
tôn giáo khác nên người ta không nắm được số người theo Đạo giáo. Đặc biệt có
nhiều người theo Đạo giáo sinh sống tại Đài Loan, nơi nhiều trường phái Đạo gia đã
lánh nạn Cách mạng văn hoá tại Trung Quốc lục địa.
Xuất xứ
Người ta không biết rõ Đạo giáo khởi phát lúc nào, chỉ thấy được là tôn giáo này
hình thành qua một quá trình dài, thâu nhập nhiều trào lưu thượng cổ khác. Đạo
giáo thâu nhiếp nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời nhà Chu (周朝, 1040-256 trước
CN). Thuộc về những tư tưởng này là vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành (五行),
thuyết về năng lượng, chân khí (氣), thuyết âm dương (陰陽) và Kinh Dịch (易經).
Nhưng, ngoài chúng ra, những truyền thống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở,
Thái cực quyền, Khí công, Thiền định, thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện kim (煉金
術) và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử.
Việc tu luyện đạt trường sinh có bắt nguồn có lẽ từ những khái niệm rất cổ xưa, bởi
vì trong Trang Tử Nam Hoa chân kinh, một tác phẩm trứ danh của Đạo giáo thế kỉ
thứ 4 trước CN thì các vị tiên trường sinh bất tử đã được nhắc đến, và đại diện tiêu
biểu cho họ chính là Hoàng Đế (黃帝, (Vị đế thời thượng cổ tên là Hoàng, xin đừng
nhầm với tước vị hoàng đế) và bà Tây Trì Vương mẫu (西王母), những hình tượng
đã có trong thời nhà Thương (商朝), thiên niên kỉ thứ hai trước CN.
Lão Tử và Đạo Đức kinh
Bài chi tiết: Lão Tử và Đạo Đức kinh
Các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được là đã thật có một triết gia tên Lão Tử
hay không. Các Đạo gia cho rằng, chính ông là tác giả của bộ Đạo Đức kinh. Tiểu
sử của ông bị huyền thoại vây phủ và vì vậy gây nhiều tranh luận trong giới học
thuật. Tương truyền ông sống thời Chiến Quốc, thế kỉ thứ 6 trước CN, một thời kì
được đánh dấu bằng chiến tranh và loạn li. Nhưng thời này cũng được xem là thời
vàng son của triết học Trung Quốc vì nhiều nhà tư tưởng đã tìm cách giải hoá vấn
đề làm sao để an dân lập quốc. Do đó mà người sau cũng gọi thời kì này là thời của
Bách gia chư tử—"hàng trăm trường phái". Đạo Đức kinh hàm dung những tư
tưởng này, hướng đến những nhà cầm quyền và cách tạo hoà bình.
Đạo Đức kinh cũng được gọi dưới tên của tác giả, là Lão Tử. Trong dạng được
truyền ngày nay thì nó bao gồm hai quyển với tổng cộng 81 chương. Phần thứ nhất
nói về Đạo, phần hai nói về Đức. Tuy nhiên, Đạo Đức kinh không là một bộ kinh có
một kết cấu lôgic của một thế giới quan, mà chỉ là một tập hợp của những ngạn ngữ
huyền bí, tối nghĩa, dường như nó muốn người đọc phải tự lí giải một cách chủ
quan. Chính vì vậy mà người ta tìm thấy hàng trăm bản chú giải, hàng trăm bản dịch
của bộ Đạo Đức kinh này.
Trang Tử và Nam Hoa chân kinh
Bài chi tiết: Trang Tử và Nam Hoa kinh
Bộ Trang Tử Nam Hoa chân kinh thì được viết với một phong cách hoàn toàn khác.
Tác phẩm này được biên soạn ở thế kỉ thứ 4 trước CN và tương truyền tác giả là
Trang Tử (vì vậy mà tên ngắn của tác phẩm này cũng là Trang Tử, tên tác giả).
Trong Nam Hoa kinh, thể tính của Đạo được miêu hoạ qua những ngụ ngôn, những
mẩu chuyện hàm dung những cuộc đàm thoại triết học. Trang Tử lấy nhiều điểm
được nhắc đến trong Đạo Đức kinh làm chủ đề, nhưng lại bài bác những điểm khác
một cách rõ ràng. Ví dụ như Trang Tử không hề nhắc đến việc nhắc nhở những nhà
cầm quyền an quốc trị dân. Một chân nhân vô sự, lìa thế gian là người lí tưởng trong
tác phẩm này. Như trường hợp Đạo Đức kinh, việc xác nhận tác giả của tác phẩm
này cũng là một điểm tranh luận lớn. Mặc dù Trang Tử được xem là một nhân vật
lịch sử nhưng theo những nhà nghiên cứu sau này thì tác phẩm Nam Hoa chân kinh
phần lớn có lẽ được các đệ tử sau này biên tập.
Trong thời Lão Trang, người ta không thấy dấu tích của một tổ chức hay cơ cấu triết
học hoặc tôn giáo nào có thể được gọi là Đạo giáo. Chỉ còn một vài tác phẩm hàm
dung tư tưởng Đạo giáo được lưu lại, tôn vinh là Thánh điển khi Đạo giáo dần dần
hình thành. Tuy nhiên, tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau là những
tác phẩm này đã được phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ với những phương
pháp tu tập tôn giáo và tín ngưỡng.
Đạo giáo như một hệ thống triết học
Ngoài đề: triết học Đạo giáo so với tín ngưỡng Đạo giáo
Sự phân biệt triết học Đạo giáo và tín ngưỡng Đạo giáo là một cách nhìn từ phương
Tây và về mặt khái niệm thì nó cũng không đủ rõ ràng. Nó có vẻ như là một phương
tiện của nền Hán học châu Âu, được áp dụng để có thể nắm bắt và miêu tả được
những khía cạnh lịch sử Đạo giáo lâu dài một cách dễ dàng hơn. Nhìn kĩ thì người
Trung Quốc cũng đã có sự phân biệt vi tế trong cách gọi tên trào lưu này. Khi dùng
từ Lão Trang (老莊) hoặc Đạo gia (道家) người ta liên tưởng đến khía cạnh triết
học và từ Đạo giáo (道教) hoặc Hoàng Lão (黃老) được dùng để chỉ đến khía cạnh
tín ngưỡng tôn giáo. Tuy vậy, Đạo giáo cũng là một hiện tượng nhiều khía cạnh như
những tôn giáo khác. Trong dòng thời gian hơn hai nghìn năm qua, nhiều hệ thống
và chi phái rất khác nhau đã được hình thành. Do vậy mà sự phân biệt giữa triết học
và tôn giáo ở đây là một sự giản hoá quá mức và trong giới học thuật người ta cũng
không nhất trí có nên phân biệt như vậy nữa hay không, bởi vì nó không tương thích
với sự phức tạp của đối tượng nghiên cứu.
Mặc dù vậy, hai khái niệm đối xứng bên trên cũng mang đến một ích lợi nhất định
vì chúng hỗ trợ bước đầu phân tích Đạo giáo. Nhưng ta nên nhớ là sự việc phức tạp
hơn là sự phân biệt đơn giản trên có thể lột toát được hết.
Khái niệm Đạo
Tên Đạo giáo xuất phát từ chữ Đạo, một danh từ triết học Trung Hoa đã được dùng
rất lâu trước khi bộ Đạo Đức kinh xuất hiện, nhưng chỉ đạt được tầm quan trọng
đặc biệt, phổ cập trong văn bản này. Đạo ban đầu có nghĩa là "con đường", những
ngay trong tiếng Hán cổ đã có nghĩa "phương tiện", "nguyên lí", "con đường chân
chính". Nơi Lão Tử, danh từ này được hiểu như một nguyên lí cơ sở của thế gian,
xuyên suốt vạn vật. Theo kinh văn, Đạo là hiện thật tối cao, là sự huyền bí tuyệt
đỉnh (chương IV):
道沖,而用之或不盈 。淵兮,似萬物之宗
Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh. Uyên hề, tự vạn vật chi tông.
Đạo trống không, nhưng đổ vào mãi mà không đầy. Đạo sâu thẳm, dường như là tổ
tông của vạn vật.
Đạo là đơn vị tối sơ, nguyên lí của vũ trụ và là cái tuyệt đối. Vạn vật xuất phát từ
Đạo, nghĩa là cả vũ trụ và như vậy, trật tự vũ trụ cũng từ Đạo mà ra, tương tự như
nguyên tắc tự nhiên, nhưng Đạo lại chẳng phải là một nhân vật toàn năng, mà là
nguồn gốc và sự dung hoà tất cả những cặp đối đãi và như thế, không thể định nghĩa
được. Đạo là Vô danh, như câu đầu của bộ kinh này cho thấy:
道可道,非常道 。名可名,非常名 。
無名天地之始,有名萬物之母 。
Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh.
Vô danh thiên địa chi thuỷ, hữu danh vạn vật chi mẫu.
Đạo mà ta có thể nói đến được, không phải là Đạo thường còn. Danh mà ta có thể
gọi được, không phải là Danh thật sự.
Vô danh là gốc của thiên địa, hữu danh là mẹ của vạn vật.
Về mặt triết học thì Đạo có thể được xem là siêu việt mọi khái niệm vì nó là cơ sở
của tồn tại, là nguyên nhân siêu việt và như vậy, là tất cả, bao gồm tồn tại và phi tồn
tại. Trên cơ sở này thì ta không thể luận đàm, định nghĩa được Đạo vì mỗi định
nghĩa đều có bản chất hạn chế. Nhưng Đạo lại là cả hai, là sự siêu việt mọi hạn
lượng mà cũng là nguyên lí bên trong trong vũ trụ. Cái Dụng (用) của Đạo tạo ra
âm dương, nhị nguyên, những cặp đối đãi và từ sự biến hoá, chuyển động của âm
dương mà phát sinh thế giới thiên hình vạn trạng.
Luân lí Đạo giáo
Đạo giáo như một tôn giáo
Sự khác biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo - được dùng ở đây vì
những nguyên nhân thực tiễn - có thể được hiểu như sau: Đạo giáo triết học theo lí
tưởng của một Thánh nhân, thực hiện Đạo bằng cách gìn giữ một tâm thức nhất
định, trong khi Đạo giáo tôn giáo tìm cách đạt Đạo qua việc ứng dụng những
phương pháp như Tĩnh toạ (Khí công, Thái cực quyền), sự tập trung cao độ, thiết
tưởng (visualization), hình dung, thuật luyện kim, nghi lễ và huyền học để tạo một
thế giới vi quan từ thân tâm - một ánh tượng của đại vũ trụ - và qua đó đạt được sự
hợp nhất với vũ trụ.
Thời điểm đầu tiên được xác nhận của Đạo giáo như một tôn giáo là năm 215, khi
Tào Tháo (曹操) chính thức công nhận trào lưu Thiên sư đạo như một tổ chức tôn
giáo.
Nhiều trường phái Đạo giáo tìm cách tu tập đạt trường sinh bất tử. Chúng có lẽ xuất
phát từ các phép tu thuộc Tát-mãn giáo (zh. 薩滿教, en. shamanism) và sự sùng bái
trường sinh bất tử và được hoà nhập với nhánh Đạo giáo triết học sau này.
Tất cả các trường phái Đạo giáo đều nỗ lực tu tập để trở về nguồn, được miêu tả
bằng những thuật ngữ Đạo giáo như
Quan hệ với Phật giáo
Phật giáo đến Trung Hoa trong thế kỉ thứ nhất sau CN, trong một thời đoạn mà giới
tri thức ở đây khát khao tiếp nhận, nhưng lại mang theo những điểm khó dung hoà.
Với tư cách của một tôn giáo đề cao sự giải thoát một cách khắt khe, Phật giáo chủ
trương triết học siêu hình và nhận thức học (sa. pramāṇa, en. epistemology, xem
thêm Lượng) với những điểm trung tâm là chân lí (sa. satya), kinh nghiệm bản thân,
kiến thức cần có trước, một tín tâm được thể hiện rõ ràng, một cơ sở tâm lí học
chuyên chú đến niềm tin đặt nền tảng trên lí giải (sa. hetu, en. reasoning) như một
khả năng tự nhiên của loài người - và dĩ nhiên, một tấm lòng tin tưởng. Những điểm
này không thu hút được giới tri thức Trung Hoa và cơ sở luận bàn duy nhất có thể
"thuần hoá" hệ thống ngoại lai này là huyền học (玄學) được các Tân Đạo gia (sau
thế kỉ thứ 2) đề xướng. Huyền học chuyên chú vào ý nghĩa siêu hình của tồn tại và
phi tồn tại (hữu vô), và hệ thống này lại tương quan mật thiết với khái niệm Niết-
bàn trong Phật giáo. Nếu Niết-bàn đối lập Luân hồi thì nó là một trạng thái phi tồn
tại hay tồn tại? Niết-bàn là thành tựu tối cao của một vị Phật, là biểu thị của Phật
tính.
Tuy nhiên, Phật giáo được trang bị với một nghịch thuyết (paradox) rất có thể đã
gây cảm hứng đến các Đạo gia, đó là sự nghịch lí của lòng tham ái (sa. tṛṣṇā). Luân
hồi - hay nói cụ thể hơn - sự tái sinh làm người được xem như là kết quả của tham
ái và Niết-bàn chỉ có thể được thực hiện khi hành giả đã buông xả tham ái. Nhưng
như vậy có nghĩa là, để thành tựu Niết-bàn, hành giả cũng phải lìa bỏ lòng ham
muốn thành tựu nó. Cách lập luận này cho thấy ý nghĩa tinh tế của hình tượng tiêu
biểu trong Phật giáo Đại thừa là Bồ Tát, một người đã đạt những điều kiện tiên
quyết để chứng ngộ Niết-bàn, nhưng vẫn lưu lại Luân hồi để cứu độ chúng sinh.
Nhánh Đại thừa của Phật giáo được phổ biến rất thành công tại Trung Hoa vì giáo lí
của trường phái này - mặc dù chỉ được thể hiện một cách ám thị - hàm dung một cái
nhìn bình đẳng: Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, tương tự trường hợp
ai cũng có thể thành một Đạo gia hoặc một Nho gia.
Nhánh triết học Phật giáo gây ảnh hưởng lớn nhất tại Trung Hoa là Trung quán tông
(sa. mādhyamika), giải đáp vấn đề bản chất của Niết-bàn hoặc Phật tính bằng cách
không giải đáp. Niết-bàn được thực hiện bằng một loại trí huệ đặc biệt, bất khả
thuyết, bất khả tư nghị (Bát-nhã, Bát-nhã-ba-la-mật-đa). Và đây cũng là điểm thúc
đẩy sự hoà nhập của khái niệm Đạo và Niết-bàn cũng như sự kết luận "Niết-bàn và
Đạo là một".
Hai trường phái Phật giáo quan trọng với vũ trụ quan có điểm tương đồng với Tân
Đạo gia là Thiên Thai tông và Hoa Nghiêm tông. Thiên Thai tông chủ trương "một
niệm phát sinh tam thiên đại thiên thế giới xuất hiện" (一念三千) và Hoa Nghiêm
tông nhấn mạnh đến khía cạnh "Lí sự vô ngại" và "Sự sự vô ngại". Sự tương tác,
xuyên suốt của vạn vật chính là sự thể hiện của Phật tính.
Tông phái có nhiều điểm tương đồng với Đạo giáo nhất là Thiền tông. Thành phần
Đạo giáo của Thiền có thể được hiểu rõ hơn khi tham chiếu lại nghịch lí "tham ái".
Lão tử nói: Ai thường không có ham muốn (dục) thì thấy được cái huyền diệu (của
Đạo), ai ham muốn thì chỉ thấy những cái nhỏ nhặt (故常無欲以觀其妙常有欲以
觀其徼, Đạo Đức kinh I). Nếu hành giả Phật giáo lìa bỏ tham ái để đạt Niết-bàn thì
phải quên cả hai, Niết-bàn và Luân hồi. Và sự kiện này lại tương ưng câu giải đáp
bí ẩn dành cho bản chất Niết-bàn cũng như nhấn mạnh lần nữa sự đề cao cách thực
hành của Thiền tông "ngay lúc này, ngay đây", sự trực nhận "tất cả chúng sinh bản
lai là Phật".
Việc từ khước lí thuyết Phật giáo của các Đạo gia được tiếp nối bởi một đặc điểm
khác: Nhấn mạnh sự hấp thụ hoàn toàn vào thực hành trên một cấp bậc cao. Thiền
tông Trung Hoa lập cơ sở chủ yếu trên quan điểm Đốn ngộ, nghĩa là "giác ngộ ngay
lập tức", và như thế, Thiền tông phản bác tất cả những quá trình tu tập: "Bạn không
thể đến gần hơn - chính vì Bạn đang ở ngay trong Đạo".
Điểm tương đồng giữa Đạo giáo và Thiền tông được minh hoạ rất hay trong Công
án thứ 19 của tác phẩm Vô môn quan và Triệu Châu Chân Tế Thiền sư ngữ lục.
Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm hỏi Nam Tuyền Phổ Nguyện:
Sư hỏi Nam Tuyền: "Thế nào là Đạo?"
Nam Tuyền đáp: "Tâm bình thường là Đạo."
Sư hỏi: "Có thể hướng đến được không?"
Nam Tuyền đáp: "Nghĩ tìm đến là trái."
Sư lại hỏi: "Chẳng nghĩ suy thì làm sao biết Đạo?"
Nam Tuyền đáp: "Đạo chẳng thuộc về hiểu biết hay không hiểu biết. Biết là vọng
giác (khái niệm), không biết là vô kí (vô minh). Nếu thật đạt Đạo thì không còn
nghi ngờ, [Đạo] như hư không thênh thang rộng rãi, đâu thể cưỡng nói là phải là
quấy."
Sư nhân nghe lời này lập tức ngộ được huyền chỉ, tâm sư sáng như trăng tròn.
Thiên sư đạo
Trương Đạo Lăng
Tổ chức Đạo giáo đầu tiên xuất hiện trong thế kỉ thứ hai sau CN, khi Trương Đạo
Lăng (張道陵) khởi xướng phong trào Thiên sư đạo (天師道) tại tỉnh Tứ Xuyên
năm 142. Có lẽ Trương Đạo Lăng đã bắt chước theo Phật giáo và thâu nhiếp các
thành phần của Toả-la-á-tư-đức giáo (zh. 瑣羅亞斯德教, en. Zoroastrianism).
Trong phái mang tên Ngũ Đẩu Mễ Đạo (五斗米道) - gọi theo số gạo đồ đệ phải
nộp để gia nhập - người ta tìm thấy những yếu tố, tư tưởng cứu thế chủ và cách
mạng: Vương triều Hán nên bị lật đổ để Thiên sư Trương Đạo Lăng cai trị và thời
đoạn cuối của thế giới bắt đầu.
Sự phát triển thành một tôn giáo quần chúng
[sửa]
Đạo gia khí công Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định
dạng và văn phong Wikipedia.
Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp
khác.
I. Nguồn gốc khí công của các phái đạo gia khí công Trước thời Ðông Hán (58
A.D) bộ môn khí công được chia làm hai loại và phương pháp luyện tập hầu như
chưa nhuốm màu sắc tôn giáo như vào những thời đại sau này. Một loại được các
môn đồ của Lão giáo và Khổng giáo thường xuyên luyện tập nhằm mục đích dưỡng
sinh, bảo tồn sức khỏe; loại khác được sử dụng bởi Y-gia trong việc điều trị dưới
những hình thức như châm, cứu, án, ma, kết hợp với nhiều động tác để điều chỉnh,
quân bình khí huyết hoặc để chữa trị bệnh tật. Sau này khi Phật-giáo được du nhập
vào Trung-quốc, một số những kỹ thuật khí công từng được luyện tập bên Ấn Ðộ
cũng bắt đầu được lưu truyền tại Trung-hoa. Ðặc biệt vì vua chúa Hán triều đa số là
những Phật tử thuần thành, nên Phật-giáo nghiễm nhiên trở thành một tôn giáo
chính, nhờ thế nên các chư tăng đã có cơ hội học hỏi một số phương pháp luyện
tâm, định thần. Tuy nhiên vì trở ngại về giao thông và truyền thống nên họ đã không
thu thập được toàn bộ các phương pháp nói trên.
Hơn nữa, trong khoảng gần năm thế kỷ Phật-giáo được phổ biến ở Trung-quốc, chỉ
có hai vị cao tăng của Phật-giáo Ấn Ðộ được mời sang thuyết giảng về Phật học.
Theo sử sách, vị thứ nhất là Pao Jaco (Mỹ-Lệ Phật) và vị thứ nhì là Bồ-Ðề Ðạt-Ma.
Tình trạng này đưa đến hậu quả là các tăng ni Trung-quốc hoàn toàn học hỏi,
nghiên cứu triết học, giáo lý Phật-giáo qua kinh điển, chứ không được trực tiếp
truyền thụ bởi những bậc thầy uyên thâm về kiến thức cũng như về kinh nghiệm tu
tập. Nên từ đó những cách thức tu luyện của các giáo sĩ Phật-giáo Trung-quốc đã
hoàn toàn khác biệt với giáo sĩ Phật-giáo Ấn-Ðộ. Họ quan niệm rằng phần tâm linh
là chính, xác thân là phụ, nên chỉ chú trọng vào việc tôi luyện tinh thần, mà sao lãng
phần thể xác. Thêm vào đó, vì chế độ dinh dưỡng thiếu quân bình nên đa số các sư
sãi Trung-hoa thời bấy giờ nếu không bệnh hoạn thì cũng yếu kém về thể lực. Tình
trạng bi đát này tiếp tục kéo dài mãi cho đến khi Ðạt-Ma sư tổ đặt chân lên đất
Trung-hoa vào năm 527 A.D. dưới triều nhà Lương.
Ðạt-Ma sư tổ ra đời vào khoảng 483 A.D., Ngài nguyên là hoàng tử của một tiểu
quốc thuộc miền nam Ấn-Ðộ, sau thoát tục trở thành tăng sĩ thuộc hệ phái
Mahayana, thường được xem là một vị Bồ-Tát chuyên cứu độ chúng sanh. Theo sự
thỉnh cầu của Lương Ðế, năm 527 Ngài đến Trung-hoa để thuyết pháp. Về sau khi
thấy nhà vua và triều đình không đồng ý với những tư tưởng Ngài truyền bá, Ngài
đã lui về ẩn thân ở Thiếu-Lâm tự. Tại đây, nhận thấy đa số chư tăng đều ốm yếu và
bệnh hoạn, Ngài đã trao tặng họ hai bộ Dịch-Cân kinh và Tẩy-Tủy công, là những
phương pháp tu luyện khả dĩ giúp họ thăng tiến trên đường tu tập. Dịch-Cân kinh
hướng dẫn các sư tăng làm cách nào để gia tăng thể lực, thay đổi bản chất từ yếu
đuối suy nhược đến chỗ tráng kiện. Phương pháp này đã giúp học sau một thời gian
luyện tập không những sức khỏe được hồi phục, còn tăng cường thể lực. Hơn nữa
khi phối hợp những kỹ thuật của Dịch-Cân kinh với võ thuật, những chiêu thức cũ
bỗng trở nên vô cùng dũng mãnh và lợi hại. Riêng môn Tẩy-Tủy công là một
phương pháp "rửa" sạch chất tủy, gia tăng số lượng hồng huyết cầu, tăng cường sức
đề kháng của cơ thể, đồng thời trì hoãn lại sự già nua của các tế bào, nhưng quan
trọng nhất là những ảnh hưởng trực tiếp đến não bộ, giúp họ trong việc an định tinh
thần, là phần tối quan trọng trong tiến trình tu tập để đạt đến sự giác ngộ. Vì những
môn công phu này rất cao về phần lý thuyết và khó luyện tập, nên mỗi thế hệ sư
tăng chỉ có một số ít cao đồ được bí mật truyền dạy và thành đạt.
Cũng vào thời gian này, một tôn giáo khác được khai sinh lấy danh xưng là Ðạo-
giáo. Người khai sáng ra tôn giáo này là Học-sĩ Trương Ðạo Lăng. Ông học được
phép trường sinh bất lão, vào đất Thục ngụ ở núi Hạc-Minh soạn ra bộ Ðạo thư gồm
24 chương và chuyên làm bùa để trị bệnh. Ông đã kết hợp nền triết học cổ truyền
của Lão giáo với giáo lý Phật-giáo như những thuyết về kiếp số, những luật khai độ
để lập thành Ðạo-giáo. Chúng ta cũng đừng quên rằng: trước khi Ðạo-giáo ra đời,
các học sĩ Lão-giáo đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ về trước, vì thế phương thuật thiền
định khí công của họ đã đạt đến trình độ thượng thừa, nên dù sau này khi Phật-giáo
đã được dung hòa với Ðạo-giáo, chỉ có một số ít những phương pháp tập luyện
được biến cải. Còn về mặt thể lực, vì đồng quan điểm với Phật-gia, nên Ðạo-gia
cũng không mấy quan tâm và chú trọng.
Vào giai đoạn này, sự liên hệ giữa hai giáo phái trở nên rất mật thiết, nên sau khi
Ðạt-Ma sư tổ qua đời, Ðạo-gia dần dà cũng nắm được những bí kiếp luyện khí công
của Phật-gia. Chỉ vài trăm năm sau, môn Dịch-Cân Kinh hầu như đã được truyền bá
rất rộng rãi trong giới Ðạo-gia. Ðến đời nhà Tống (960 A.D.), Thái Cực quyền, một
môn nội đan khí công chú trọng đến việc luyện khí được sáng tác bởi Ðạo-sĩ
Trương-Tam-Phong trên núi Võ Ðang, đã biến địa danh này trở thành trung tâm
điểm của Ðạo-giáo và phái Nội-Ðan khí công. Trong khi đó Thiếu-Lâm tự thường
được coi là nơi có nhiều thẩm quyền hơn về môn Ngoại-Ðan khí công.
Riêng về môn Tẩy-Tủy công tưởng đã bị thất truyền, cơ may xảy ra dưới thời nhà
Thanh (1644-1912 A.D.) khi cả Phật-gia lẫn Ðạo-gia đều góp phần vào công cuộc
lật đổ triều đại này. Ðể đàn áp và trả thù, rất nhiều đạo sĩ, tu sĩ đã bị bắt bớ, tù đầy,
giam cầm, khủng bố và sát hại; số lượng chùa chiền, lăng tự bị quan quân nhà
Thanh đốt phá cũng không ít (điển hình là trường hợp chùa Thiếu-Lâm, núi La-
Phù). Một số Ðạo-sĩ, cao tăng may mắn đào thoát được, và để tiếp tục kháng chiến
họ bắt đầu truyền dạy những tuyệt kỹ của môn Dịch-Cân kinh và Tẩy-Tủy công cho
dân gian. Nhờ vậy cả hai bí kiếp này vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay.
Ðạo-Gia Khí Công
Cùng quan niệm như Phật-gia, Ðạo-gia tin rằng căn nguyên của những phiền não
thế tục là do thất tình, lục dục mang đến. Muốn chế ngự được những cảm xúc này
chúng ta phải tu tập và tôi luyện để thần khí đạt đến được trạng thái an định, độc
lập. Từ đó không những giác ngộ, trường sinh bất lão còn có thể làm chủ được định
mệnh của mình sau khi lìa thế. Tiến trình luyện tập của Ðạo-gia được chia làm 3
giai đoạn như sau:
1) Luyện tinh hóa khí:
Giai đoạn này liên quan đến việc gia tăng và kết tụ nguyên tinh (original essence).
Sau đó chuyển hóa tinh thành khí bằng những phương pháp thiền định hay những
kỹ thuật nội công theo đúng một chu kỳ là 100 ngày.
2) Luyện khí hóa thần:
Sau một thời gian luyện tập, khó được luân chuyển theo đại chu thiên hay chính là
pháp giới hậu thiên .Qua giai đoạn này đã đủ nằm ngoài tam giới ko thuộc luâ hồi .
3) Luyện thần hoàn hư:
Giai đoạn tu luyện đưa thần trở về với hư không (vô-cực).
Dịch-Cân kinh và Tẩy-Tủy công cũng được Ðạo-gia coi là những phương pháp giúp
chống lại sự già nua, kéo dài tuổi thọ. Trong khi Dịch-Cân kinh tôi luyện phần thân
xác, thì Tẩy-Tủy công giúp khí lưu chuyển trong tủy sống, giúp tủy sạch sẽ tươi
nhuận. Tủy sống là nơi sản xuất phần lớn số lượng hồng huyết và bạch huyết cầu.
Chúng có nhiệm vụ mang những dưỡng chất cần thiết cho việc nuôi dưỡng các tế
bào cùng các cơ quan trong cơ thể của chúng ta, đồng thời tẩy trừ, thanh lọc các
chất cặn bã và độc tố. Khi hồng huyết cầu tươi tốt hoạt động bình thường, cơ thể
chúng ta khỏe mạnh hữu hiệu trong việc chống lại bệnh tật, đình trệ sự già nua. Vì
thế đối với Ðạo-gia trên 100 tuổi vẫn chưa được coi là thọ. Tục truyền Lão-tử thọ
đến 250 tuổi.
Nhằm mục đích tôi luyện Thân, Tâm. Ðạo-gia đề ra 3 đường lối để luyện tập:
1) Kim Ðơn Ðại Ðạo: Ðường lối này hướng dẫn cách luyện tập tự bản thân vì cho
rằng chúng ta có thể đạt được sự trường sinh bất lão hay giác ngộ tự bản thể của
mỗi cá nhân.
2) Tính Mệnh Song Tu: Cũng chính là phép tu chủ yếu của đạo gia ,bao gồm kim
đơn như trên và 4 đại phái khác là thái cực ,phù lục ,kiếm tiên và huyền chân .Mục
đích đều là hoàn đến vô cực dù trời đất có hư hoại vẫn ko bị ảnh hưởng ,có thể tái
lập thiên địa ,pháp lực vô biên .Các công phu này vẫn là cực bí mật ít người biết .
3) Ðạo Ngoại Dược Giáo: Cách này chuyên dùng dược liệu để vận hành và kiểm
soát khí lực trong khi luyện tập. Những vị như sâm, nhung thường được sử dụng để
bào chế phương dược. Theo một số đông Ðạo-sĩ, dược liệu cũng có nghĩa là khí. Có
thể trao đổi hoặc tiếp nhận do đó họ chủ trương lối sống khoáng dật.
Qua những cách thức luyện tập kể trên, sau đời nhà Tống (960-1367) Ðạo-gia lại
chia làm hai phái rõ rệt:
Chính Diêu Phái
Phái này cực lực lên án việc luyện khí công với đối tượng cùng phái hoặc khác phái
tính là trái với luân thường, đạo lý. Họ chủ trương như Phật-gia: phương thức dẫn
dắt đến sự giác ngộ là tôi luyện chính bản thân mình. Nếu tập luyện với người khác
bất kể phái tính nào, cũng sẽ làm tâm trí mất đi nét thanh tịnh gây trở ngại cho việc
tu tập.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét